Xét một số nguyên dương . Khi đó
(1) là số lẻ khi và chỉ khi
là một số chính phương.
(2) là số lẻ khi và chỉ khi
hoặc
là số chính phương.
Chứng minh. Giả sử phân tích tiêu chuẩn ra thừa số nguyên tố của số nguyên dương là:
trong đó là các số nguyên tố lẻ phân biệt, và
là các số tự nhiên (các số mũ này có thể bằng
nếu thừa số đó không xuất hiện trong
).
(1) Số lượng các ước dương của được tính bởi:
Một tích các số nguyên là số lẻ khi và chỉ khi tất cả các nhân tử trong tích đều là số lẻ. Do đó, là số lẻ tương đương với việc
và
(với mọi
) đều là các số lẻ.
Điều này xảy ra khi và chỉ khi và tất cả các
đều là số chẵn. Khi các số mũ trong phân tích thừa số nguyên tố đều chẵn,
chính là bình phương của một số nguyên dương. Vậy
là số lẻ khi và chỉ khi
là một số chính phương.
(2) Tổng các ước dương của được tính bởi:
Để là số lẻ, điều kiện cần và đủ là mỗi nhân tử trong tích trên đều là số lẻ.
Đầu tiên ta xét nhân tử . Nếu
thì
(là số lẻ). Nếu
thì
, luôn là một số lẻ bất chấp tính chẵn lẻ của
. Do đó, số mũ
không bị ràng buộc điều kiện để tổng này lẻ.
Bây giờ xét nhân tử ứng với các số nguyên tố lẻ (
):
Tổng bao gồm
số hạng. Vì
là số lẻ nên lũy thừa
luôn là số lẻ với mọi
. Một tổng gồm các số lẻ sẽ nhận giá trị lẻ khi và chỉ khi số lượng các số hạng tham gia vào tổng là một số lẻ.
Suy ra phải là số lẻ, tương đương với
phải là số chẵn với mọi
.
Từ đó, ta có thể viết lại dưới dạng:
trong đó là một số nguyên dương lẻ.
Xét hai trường hợp đối với :
Trường hợp 1: Nếu là số chẵn (giả sử
với
), ta có:
Khi đó, là một số chính phương.
Trường hợp 2: Nếu là số lẻ (giả sử
với
), ta có:
Khi đó, là một số chính phương.
Tóm lại, là số lẻ khi và chỉ khi
hoặc
là một số chính phương.