Useful Lemmas on Real Polynomials, Part II


Các bạn xem phần trước ở https://nttuan.org/2011/01/27/realpoly01/

Bổ đề 4. Cho P(x) là một đa thức khác đa thức hằng với hệ số thực. Giả sử bậc của P là lẻ và hệ số cao nhất của nó lớn hơn 0. Khi đó tồn tại số nguyên dương K thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:

(1) hàm số đa thức P(x) tăng ngặt trên các khoảng (-\infty;-K] và [K;+\infty);

(2) với mỗi x>K và y\leq K, ta có P(x)>P(y);

(3) với mỗi x<-K và y\geq -K thì $latex P(x)

Chứng minh. Khẳng định đúng hiển nhiên với các đa thức có bậc bằng 1. Bây giờ giả sử đa thức có dạng

P(x) = a_n x^n + a_{n-1} x^{n-1} + \dots + a_1 x + a_0,

trong đó n là số nguyên dương lẻ >1 và a_n > 0. Xét đạo hàm của đa thức

P'(x) = n a_n x^{n-1} + (n-1) a_{n-1} x^{n-2} + \dots + a_1.

Vì n là số lẻ nên n-1 là số chẵn. Đồng thời, do a_n > 0 nên hệ số bậc cao nhất của đa thức đạo hàm là n a_n > 0. Do P'(x) là đa thức bậc chẵn với hệ số cao nhất dương, ta có \lim_{x\to \pm\infty} P'(x) = +\infty.

Theo định nghĩa của giới hạn, tồn tại một số thực dương M đủ lớn sao cho với mọi x thỏa mãn |x| \ge M, ta luôn có P'(x) > 0. Điều này có nghĩa là hàm số P(x) đồng biến ngặt trên các khoảng (-\infty; -M] và [M; +\infty).

Vì hàm đa thức P(x) liên tục trên đoạn [-M; M] nên nó đạt giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất trên đoạn này. Gọi C_1 = \max_{x \in [-M; M]} P(x) và C_2 = \min_{x \in [-M; M]} P(x). Mặt khác, vì bậc n lẻ và a_n > 0, ta có giới hạn của đa thức P(x) ở hai đầu vô cực là \lim_{x\to +\infty} P(x) = +\infty và \lim_{x\to -\infty} P(x) = -\infty.

Dựa vào hai giới hạn này, ta có thể tìm được các số thực dương M_1 và M_2 lớn hơn M sao cho: Với mọi x \ge M_1, ta có P(x) > C_1. Với mọi x \le -M_2, ta có P(x) < C_2.

Bây giờ, ta chọn K là một số nguyên dương sao cho K > \max\{M_1, M_2\}. Ta sẽ chứng minh K thỏa mãn cả ba điều kiện của bổ đề.

Thứ nhất, vì K > M nên hai khoảng (-\infty; -K] và [K; +\infty) lần lượt là tập con của (-\infty; -M] và [M; +\infty). Do P(x) đồng biến ngặt trên (-\infty; -M] và [M; +\infty) nên nó cũng đồng biến trên (-\infty; -K] và [K; +\infty). Điều kiện (1) được thỏa mãn.

Thứ hai, xét x > K và y \le K, ta chia thành ba trường hợp để so sánh giá trị.

  • Nếu y \in (M; K]: Cả x và y đều thuộc khoảng [M; +\infty), nơi P(x) đồng biến. Vì x > y nên P(x) > P(y).
  • Nếu y \in [-M; M]: Vì x > K > M_1 nên theo cách chọn M_1, ta có P(x) > C_1. Mặt khác y \in [-M; M] nên P(y) \le C_1. Suy ra P(x) > P(y).
  • Nếu y < -M: Vì P(x) đồng biến trên (-\infty; -M], ta có P(y) < P(-M). Hơn nữa -M \in [-M; M] nên P(-M) \le C_1 < P(x), kéo theo P(x) > P(y).

Như vậy, với mọi x > K và y \le K, ta luôn có P(x) > P(y). Điều kiện (2) được thỏa mãn.

Thứ ba, xét x < -K và y \ge -K, ta cũng chia thành ba trường hợp.

  • Nếu y \in [-K; -M): Cả x và y đều thuộc (-\infty; -M], nơi P(x) đồng biến. Do x < y nên P(x) < P(y).
  • Nếu y \in [-M; M]: Vì x < -K < -M_2 nên theo cách chọn M_2, ta có P(x) < C_2. Trong khi đó y \in [-M; M] nên P(y) \ge C_2. Suy ra P(x) < P(y).
  • Nếu y > M: Hàm số đồng biến trên [M; +\infty) nên P(y) > P(M). Hơn nữa M \in [-M; M] nên P(M) \ge C_2 > P(x), kéo theo P(x) < P(y).

Như vậy, với mọi x < -K và y \ge -K, ta luôn có P(x) < P(y). Điều kiện (3) được thỏa mãn. \Box

Bổ đề 5. Cho P(x) là một đa thức khác đa thức hằng với hệ số thực. Giả sử bậc của P là lẻ và hệ số cao nhất của nó nhỏ hơn 0. Khi đó tồn tại số nguyên dương K thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:

(1) hàm số đa thức P(x) nghịch biến trên các khoảng (-\infty;-K] và [K;+\infty);

(2) với mỗi x>K và y\leq K, ta có P(x)

(3) với mỗi x<-K và y\geq -K thì P(x)>P(y).

Chứng minh. Khẳng định đúng hiển nhiên với các đa thức có bậc bằng 1. Bây giờ giả sử đa thức có dạng P(x) = a_n x^n + a_{n-1} x^{n-1} + \dots + a_1 x + a_0, trong đó n là số nguyên dương lẻ >1 và a_n < 0.

Xét đạo hàm của đa thức: P'(x) = n a_n x^{n-1} + (n-1) a_{n-1} x^{n-2} + \dots + a_1. Vì n là số lẻ nên n-1 là số chẵn. Đồng thời, do a_n < 0 nên hệ số bậc cao nhất của đa thức đạo hàm là n a_n < 0. Do P'(x) là đa thức bậc chẵn với hệ số cao nhất âm, giới hạn của nó khi x tiến về cả hai đầu vô cực đều là âm vô cực \lim_{x\to \pm\infty} P'(x) = -\infty.

Theo định nghĩa của giới hạn, tồn tại một số thực dương M đủ lớn sao cho với mọi x thỏa mãn |x| \ge M, ta luôn có P'(x) < 0. Điều này có nghĩa là hàm số P(x) nghịch biến ngặt trên các khoảng (-\infty; -M] và [M; +\infty).

Vì hàm đa thức P(x) liên tục trên đoạn [-M; M] nên nó đạt giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất trên đoạn này. Gọi C_1 = \max_{x \in [-M; M]} P(x) và C_2 = \min_{x \in [-M; M]} P(x).

Mặt khác, vì bậc n lẻ và a_n < 0, ta có giới hạn của đa thức P(x) ở hai đầu vô cực là:

\lim_{x\to +\infty} P(x) = -\infty và \lim_{x\to -\infty} P(x) = +\infty.

Dựa vào hai giới hạn này, ta có thể tìm được các số thực dương M_1 và M_2 lớn hơn M sao cho: Với mọi x \ge M_1, ta có P(x) < C_2. Với mọi x \le -M_2, ta có P(x) > C_1.

Bây giờ, ta chọn K là một số nguyên dương sao cho K > \max\{M_1, M_2\}. Ta sẽ chứng minh K thỏa mãn cả ba điều kiện của bổ đề.

Thứ nhất, vì K > M nên hai khoảng (-\infty; -K] và [K; +\infty) lần lượt là tập con của (-\infty; -M] và [M; +\infty). Do P(x) nghịch biến ngặt trên (-\infty; -M] và [M; +\infty) nên nó cũng nghịch biến trên (-\infty; -K] và [K; +\infty). Điều kiện (1) được thỏa mãn.

Thứ hai, xét x > K và y \le K, ta chia thành ba trường hợp để so sánh giá trị:

  • Nếu y \in (M; K]: Cả x và y đều thuộc khoảng [M; +\infty), nơi P(x) nghịch biến. Vì x > y nên P(x) < P(y).
  • Nếu y \in [-M; M]: Vì x > K > M_1 nên theo cách chọn M_1, ta có P(x) < C_2. Mặt khác y \in [-M; M] nên P(y) \ge C_2. Suy ra P(x) < P(y).
  • Nếu y < -M: Vì P(x) nghịch biến trên (-\infty; -M], ta có P(y) > P(-M). Hơn nữa -M \in [-M; M] nên P(-M) \ge C_2 > P(x), kéo theo P(x) < P(y).

Như vậy, với mọi x > K và y \le K, ta luôn có P(x) < P(y). Điều kiện (2) được thỏa mãn.

Thứ ba, xét x < -K và y \ge -K, ta cũng chia thành ba trường hợp:

  • Nếu y \in [-K; -M): Cả x và y đều thuộc (-\infty; -M], nơi P(x) nghịch biến. Do x < y nên P(x) > P(y).
  • Nếu y \in [-M; M]: Vì x < -K < -M_2 nên theo cách chọn M_2, ta có P(x) > C_1. Trong khi đó y \in [-M; M] nên P(y) \le C_1. Suy ra P(x) > P(y).
  • Nếu y > M: Hàm số nghịch biến trên [M; +\infty) nên P(y) < P(M). Hơn nữa M \in [-M; M] nên P(M) \le C_1 < P(x), kéo theo P(x) > P(y).

Như vậy, với mọi x < -K và y \ge -K, ta luôn có P(x) > P(y). Điều kiện (3) được thỏa mãn. \Box

Bổ đề 6. Cho P(x) là một đa thức khác đa thức hằng với hệ số thực. Giả sử bậc của P là chẵn và hệ số cao nhất của nó lớn hơn 0. Khi đó tồn tại số nguyên dương K thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:

(1) hàm số đa thức P(x) nghịch biến trên khoảng (-\infty;-K] và đồng biến trên khoảng [K;+\infty);

(2) với mỗi x>K và y \in [0; K], ta có P(x)>P(y);

(3) với mỗi x<-K và y \in [-K; 0] thì P(x)>P(y).

Chứng minh. Giả sử đa thức có dạng P(x) = a_n x^n + a_{n-1} x^{n-1} + \dots + a_1 x + a_0, trong đó n là số nguyên dương chẵn và a_n > 0.

Xét đạo hàm của đa thức: P'(x) = n a_n x^{n-1} + (n-1) a_{n-1} x^{n-2} + \dots + a_1. Vì n là số chẵn nên n-1 là số lẻ. Đồng thời, do a_n > 0 nên hệ số bậc cao nhất của đa thức đạo hàm là n a_n > 0. Do P'(x) là đa thức bậc lẻ với hệ số cao nhất dương, giới hạn của nó ở hai đầu vô cực là \lim_{x\to +\infty} P'(x) = +\infty và \lim_{x\to -\infty} P'(x) = -\infty.

Theo định nghĩa của giới hạn, tồn tại một số thực dương M đủ lớn sao cho với mọi x \ge M ta có P'(x) > 0, và với mọi x \le -M ta có P'(x) < 0. Điều này có nghĩa là hàm số P(x) nghịch biến ngặt trên khoảng (-\infty; -M] và đồng biến ngặt trên khoảng [M; +\infty).

Vì hàm đa thức P(x) liên tục trên các đoạn [-M; 0] và [0; M], nó sẽ đạt giá trị lớn nhất trên từng đoạn này. Gọi C_1 = \max_{x \in [0; M]} P(x) và C_2 = \max_{x \in [-M; 0]} P(x).

Mặt khác, vì bậc n chẵn và a_n > 0, giới hạn của đa thức P(x) ở cả hai đầu vô cực đều là dương vô cực \lim_{x\to \pm\infty} P(x) = +\infty.

Dựa vào hai giới hạn này, ta có thể tìm được các số thực dương M_1 và M_2 lớn hơn M sao cho: Với mọi x \ge M_1, ta có P(x) > C_1. Với mọi x \le -M_2, ta có P(x) > C_2.

Bây giờ, ta chọn K là một số nguyên dương sao cho K > \max\{M_1, M_2\}. Ta sẽ chứng minh K thỏa mãn cả ba điều kiện của bổ đề.

Thứ nhất, vì K > M nên hai khoảng (-\infty; -K] và [K; +\infty) lần lượt là tập con của (-\infty; -M] và [M; +\infty). Do P(x) nghịch biến trên khoảng (-\infty; -M] và đồng biến trên khoảng [M; +\infty), nó cũng nghịch biến trên khoảng (-\infty; -K] và đồng biến trên khoảng [K; +\infty). Điều kiện (1) được thỏa mãn.

Thứ hai, xét x > K và y \in [0; K], ta chia thành hai trường hợp đối với y:

  • Nếu y \in [0; M]: Vì x > K > M_1 nên theo cách chọn M_1, ta có P(x) > C_1. Mặt khác y \in [0; M] nên P(y) \le C_1. Suy ra P(x) > P(y).
  • Nếu y \in (M; K]: Cả x và y đều thuộc khoảng [M; +\infty), nơi P(x) đồng biến. Vì x > y nên P(x) > P(y).

Như vậy, với mọi x > K và y \in [0; K], ta luôn có P(x) > P(y). Điều kiện (2) được thỏa mãn.

Thứ ba, xét x < -K và y \in [-K; 0], ta cũng chia thành hai trường hợp đối với y:

  • Nếu y \in [-M; 0]: Vì x < -K < -M_2 nên theo cách chọn M_2, ta có P(x) > C_2. Trong khi đó y \in [-M; 0] nên P(y) \le C_2. Suy ra P(x) > P(y).
  • Nếu y \in [-K; -M): Cả x và y đều thuộc khoảng (-\infty; -M], nơi P(x) nghịch biến. Do x < y nên P(x) > P(y).

Như vậy, với mọi x < -K và y \in [-K; 0], ta luôn có P(x) > P(y). Điều kiện (3) được thỏa mãn. \Box

Useful Lemmas on Real Polynomials, Part I


Trong giải tích và đại số, các đa thức với hệ số thực đóng vai trò nền tảng và xuất hiện thường xuyên trong nhiều bài toán từ cơ bản đến chuyên sâu. Việc hiểu rõ sự biến thiên, tồn tại cực trị, hay đánh giá giới hạn của hàm đa thức là chìa khóa để giải quyết nhiều bài toán khó.

Bài này được biên soạn nhằm cung cấp và hệ thống hóa các tính chất giải tích quan trọng của hàm đa thức thông qua các bổ đề trọng tâm. Các kết quả trong tài liệu tập trung khai thác hành vi của đa thức ở vô cực dựa trên tính chẵn, lẻ của bậc và dấu của hệ số cao nhất. Cụ thể, tài liệu đi sâu vào các vấn đề:


(1) Sự tồn tại giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của đa thức.
(2) Bậc và giới hạn của đa thức sai phân.
(3) Hành vi của đa thức trên các khoảng ở xa gốc tọa độ.
(4) Đánh giá, chặn sự tăng trưởng của đa thức thông qua lũy thừa bậc cao nhất.
(5) Tính chất kẹp của đa thức bậc chẵn.


Đây là những công cụ nền tảng, được chứng minh một cách chặt chẽ dựa trên các định lý về giới hạn và hàm liên tục. Hy vọng tập tài liệu này sẽ là nguồn tham khảo hữu ích, giúp bạn đọc nắm vững các kỹ thuật xử lý đa thức để áp dụng vào các bài toán giải tích, phương trình hàm và bất đẳng thức trong các kỳ thi học sinh giỏi Toán.

Bạn đọc nên xem lại bài sau để theo dõi cho dễ dàng https://nttuan.org/2007/10/26/poly01/

Bổ đề 1. Cho P(x) là một đa thức khác đa thức hằng với hệ số thực. Nếu bậc của đa thức là lẻ thì hàm số đa thức P(x) không có giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất trên tập số thực.

Chứng minh. Giả sử đa thức có dạng P(x) = a_n x^n + a_{n-1} x^{n-1} + \dots + a_1 x + a_0, trong đó a_n \neq 0 và n là một số nguyên dương lẻ.

Với mọi x \neq 0, ta có

P(x) = x^n \left( a_n + \frac{a_{n-1}}{x} + \dots + \frac{a_1}{x^{n-1}} + \frac{a_0}{x^n} \right).

Khi x tiến tới dương vô cực hoặc âm vô cực, phần trong ngoặc có giới hạn là

\lim_{x\to \pm\infty} \left( a_n + \frac{a_{n-1}}{x} + \dots + \frac{a_1}{x^{n-1}} + \frac{a_0}{x^n} \right) = a_n.

Mặt khác, vì bậc n là một số lẻ nên

\lim_{x\to +\infty} x^n = +\infty và \lim_{x\to -\infty} x^n = -\infty.

Suy ra nếu a_n > 0, theo quy tắc nhân giới hạn, ta có \lim_{x\to +\infty} P(x) = +\infty và \lim_{x\to -\infty} P(x) = -\infty; nếu a_n < 0, theo quy tắc nhân giới hạn, ta có \lim_{x\to +\infty} P(x) = -\infty và \lim_{x\to -\infty} P(x) = +\infty.

Trong cả hai trường hợp, ta đều thấy giới hạn của hàm số P(x) ở hai đầu vô cực luôn là dương vô cực và âm vô cực. Điều này có nghĩa là khi x thay đổi trên toàn bộ trục số thực, hàm số P(x) có thể nhận những giá trị lớn tùy ý và những giá trị nhỏ âm tùy ý.

Do tập giá trị của hàm số không bị chặn trên nên P(x) không thể có giá trị lớn nhất trên tập số thực. Tương tự, do tập giá trị không bị chặn dưới nên P(x) cũng không thể có giá trị nhỏ nhất trên tập số thực. \Box

Bổ đề 2. Cho P(x) là một đa thức khác đa thức hằng với hệ số thực. Nếu bậc của đa thức là chẵn thì hàm số đa thức P(x) có giá trị nhỏ nhất hoặc giá trị lớn nhất trên tập số thực, nhưng không thể có cả hai.

Chứng minh. Giả sử đa thức có dạng P(x) = a_n x^n + a_{n-1} x^{n-1} + \dots + a_1 x + a_0, trong đó a_n \neq 0 và n là một số nguyên dương chẵn.

Với mọi x \neq 0, ta có thể viết lại đa thức dưới dạng

P(x) = x^n \left( a_n + \frac{a_{n-1}}{x} + \dots + \frac{a_1}{x^{n-1}} + \frac{a_0}{x^n} \right).

Khi x tiến tới dương vô cực hoặc âm vô cực, biểu thức trong ngoặc có giới hạn bằng a_n. Mặt khác, vì n là một số nguyên chẵn nên giới hạn của x^n khi x tiến về hai đầu vô cực luôn là dương vô cực:

\lim_{x\to \pm\infty} x^n = +\infty.

Từ đây, ta xét hai trường hợp dựa vào dấu của hệ số bậc cao nhất a_n.

Trường hợp 1: a_n > 0.

Theo quy tắc nhân giới hạn, ta có \lim_{x\to \pm\infty} P(x) = +\infty. Điều này chứng tỏ tập giá trị của hàm số P(x) không bị chặn trên, do đó hàm số không thể có giá trị lớn nhất trên tập số thực. Tiếp theo, ta chứng minh hàm số có giá trị nhỏ nhất. Vì giới hạn của P(x) ở hai đầu vô cực là dương vô cực, nên theo định nghĩa giới hạn, tồn tại một số thực dương M đủ lớn sao cho với mọi x thỏa mãn |x| > M, ta đều có P(x) \ge P(0). Xét trên đoạn [-M, M], do P(x) là một hàm số liên tục trên một đoạn đóng và bị chặn, theo định lý Weierstrass, hàm số đạt giá trị nhỏ nhất tại một điểm x_0 thuộc đoạn [-M, M]. Khi đó, P(x) \ge P(x_0) với mọi x \in [-M, M]. Đặc biệt, vì điểm 0 nằm trong đoạn [-M, M] nên P(0) \ge P(x_0). Kết hợp lại, với các điểm x nằm ngoài đoạn [-M, M] (tức là |x| > M), ta có P(x) \ge P(0) \ge P(x_0). Như vậy, với mọi số thực x, ta luôn có P(x) \ge P(x_0), tức là hàm số có giá trị nhỏ nhất trên toàn bộ trục số thực.

Trường hợp 2: a_n <0.

Theo quy tắc nhân giới hạn, ta có \lim_{x\to \pm\infty} P(x) = -\infty. Hoàn toàn tương tự, tập giá trị của hàm số không bị chặn dưới nên P(x) không có giá trị nhỏ nhất. Bằng cách xét giới hạn tiến về vô cực, tồn tại số thực dương K sao cho với mọi |x| > K thì P(x) \le P(0). Hàm đa thức P(x) liên tục trên đoạn [-K, K] nên sẽ đạt giá trị lớn nhất tại một điểm x_1 \in [-K, K]. Lập luận tương tự như trên cho thấy P(x) \le P(x_1) với mọi số thực x, nghĩa là hàm số có giá trị lớn nhất trên toàn bộ trục số thực.

Tóm lại, nếu a_n > 0 thì đa thức có giá trị nhỏ nhất nhưng không có giá trị lớn nhất; nếu a_n < 0 thì đa thức có giá trị lớn nhất nhưng không có giá trị nhỏ nhất. \Box

Bổ đề 3. Cho P(x) là một đa thức với hệ số thực có bậc n lớn hơn 1. Khi đó với mỗi số thực c khác 0, đa thức P(x+c)-P(x) có bậc n-1. Nói riêng, với mỗi số thực c khác 0, ta có

\lim_{x\to \pm\infty}|P(x+c)-P(x)|=+\infty.

Chứng minh. Giả sử P(x) có dạng

P(x) = a_n x^n + a_{n-1} x^{n-1} + \dots + a_1 x + a_0,

trong đó a_n, a_{n-1}, \dots, a_0 là các số thực và a_n \neq 0.

Theo công thức khai triển nhị thức Newton, ta có

(x+c)^n = x^n + n c x^{n-1} + \frac{n(n-1)}{2} c^2 x^{n-2} + \dots + c^n

và

(x+c)^{n-1} = x^{n-1} + (n-1) c x^{n-2} + \dots + c^{n-1}.

Suy ra

P(x+c) = a_n(x^n + n c x^{n-1} + \dots) + a_{n-1}(x^{n-1} + \dots) + \dots + a_0 = a_n x^n + (a_n n c + a_{n-1}) x^{n-1} + R(x),

trong đó R(x) là một đa thức có bậc không vượt quá n-2.

Từ đó, xét hiệu của hai đa thức, ta có

P(x+c) - P(x) = \left[ a_n x^n + (a_n n c + a_{n-1}) x^{n-1} + R(x) \right] - \left[ a_n x^n + a_{n-1} x^{n-1} + \dots + a_0 \right] = a_n n c x^{n-1} + S(x),

với S(x) là một đa thức có bậc không vượt quá n-2.

Do a_n \neq 0, n > 1 và c \neq 0, ta suy ra hệ số của x^{n-1} là a_n n c \neq 0. Điều này chứng tỏ đa thức Q(x) = P(x+c) - P(x) có bậc chính xác bằng n-1.

Mặt khác, vì n > 1 nên n-1 \ge 1. Đa thức Q(x) là một đa thức có bậc lớn hơn hoặc bằng 1. Theo tính chất giới hạn của đa thức, giới hạn của trị tuyệt đối của một đa thức có bậc từ 1 trở lên khi x tiến tới dương vô cực hay âm vô cực luôn bằng dương vô cực. Do đó

\lim_{x\to \pm\infty}|P(x+c)-P(x)|=+\infty.

Bổ đề được chứng minh hoàn toàn. \Box

The Chinese Remainder Theorem and Its Generalization


Định lý (Định lý phần dư Trung Hoa). Cho các số nguyên dương r; n_1, n_2, \ldots, n_r thỏa mãn (n_i,n_j)=1 với mọi chỉ số khác nhau i và j. Khi đó hệ phương trình đồng dư

\displaystyle x\equiv a_1\pmod{n_1},x\equiv a_2\pmod{n_2},\ldots,x\equiv a_r\pmod{n_r}

có nghiệm duy nhất modulo \prod n_i với mỗi r số nguyên a_1, a_2, \ldots, a_r.

Chúng tôi giới thiệu hai chứng minh của định lí này.

Chứng minh thứ nhất. Phần duy nhất là đơn giản, sau đây ta chứng minh phần tồn tại. Với mỗi i, tồn tại số nguyên k_i để

\displaystyle x_i:=k_i\prod _{j\not =i}n_j\equiv 1\pmod{n_i}.

Ta thấy x=\sum a_ix_i là một nghiệm của hệ. \blacksquare

Chứng minh thứ hai. Đặt N=\prod n_i. Dễ thấy ánh xạ

\displaystyle x \pmod N\mapsto (x\pmod{n_1}, x\pmod{n_2}, \ldots, x\pmod{n_r})

là một song ánh từ tập các lớp \pmod N đến bộ các lớp \pmod{n_i}. \blacksquare

Hệ quả. Cho các số nguyên dương r; n_1, n_2, \ldots, n_r và các số nguyên a_1, a_2, \ldots, a_r. Khi đó hệ phương trình đồng dư

\displaystyle x\equiv a_1\pmod{n_1},x\equiv a_2\pmod{n_2},\ldots,x\equiv a_r\pmod{n_r}

có nghiệm khi và chỉ khi (n_i,n_j)\mid a_i-a_j với mọi cách chọn hai chỉ số phân biệt i và j.

Chứng minh. Điều kiện cần là hiển nhiên, ta chứng minh (n_i,n_j)\mid a_i-a_j với mọi i < j là điều kiện đủ để hệ có nghiệm.

Nếu \prod n_i=1 thì khẳng định đúng, nếu không, gọi p_1,p_2,\ldots,p_k là các ước nguyên tố của \prod n_i. Với mỗi i, gọi j(i) là chỉ số thỏa mãn

\displaystyle s_i:=v_{p_i}(n_{j(i)})=\max (v_{p_i}(n_1),v_{p_i}(n_2),\ldots,v_{p_i}(n_r)).

Theo định lý phần dư Trung Hoa, tồn tại số nguyên x sao cho

\displaystyle x\equiv a_{j(i)}\pmod{p_i^{s_i}}

với mọi i. Dễ thấy x là nghiệm của hệ phương trình đồng dư đã cho. \blacksquare

A Proof of the Lifting The Exponent Lemma


Định lý 1 (Bổ đề nâng số mũ). Cho hai số nguyên lẻ a,b và số nguyên dương n. Khi đó:

(1) nếu n là số lẻ thì \displaystyle v_2(a^n-b^n)=v_2(a-b).

(2) nếu n là số chẵn thì \displaystyle v_2(a^n-b^n)=v_2\left(\frac{a^2-b^2}{2}\right)+v_2(n).

Chứng minh. (1) đúng hiển nhiên. Bây giờ ta chứng minh (2).

Viết n=2^kx với k là số nguyên dương và x là số nguyên lẻ. Ta có:

a^n-b^n=(a^x-b^x)(a^x+b^x)(a^{2x}+b^{2x})\cdots (a^{2^{k-1}x}+b^{2^{k-1}x})

và trong các thừa số ở vế phải, trừ hai thừa số đầu, tất cả các thừa số còn lại đều chia cho 4 dư 2, suy ra:

v_2(a^n-b^n)=v_2(a^{2x}-b^{2x})+k-1=v_2(a^2-b^2)+v_2(n)-v_2(2).

Định lý được chứng minh. \Box

Định lý 2 (Bổ đề nâng số mũ). Cho số nguyên tố lẻ p và hai số nguyên a,b không chia hết cho p thỏa mãn p\mid a-b. Khi đó:

\forall n\in\mathbb{N}^*,\quad v_p\left(a^n-b^n\right)= v_p\left(a-b\right)+v_p(n).

Chứng minh. Với mỗi số nguyên tố lẻ p, cố định nó. Gọi S là tập tất cả các số nguyên dương n sao cho:

v_p\left(a^n-b^n\right)= v_p\left(a-b\right)+v_p(n)

với mọi a,b thỏa mãn các giả thiết của định lý. Ta cần chứng minh S=\mathbb{N}^*.

Khẳng định 1. 1\in S.

Chứng minh. Hiển nhiên. \Box

Khẳng định 2. Với mỗi hai số nguyên dương m và n, nếu m\in S và n\in S thì mn\in S.

Chứng minh. Với m,n\in S và a,b thỏa mãn các giả thiết của định lí, ta có:

\begin{aligned} v_p(a^{mn}-b^{mn}) &=v_p((a^m)^n-(b^m)^n)\\ &=v_p(a^m-b^m)+v_p(n)\\ &=v_p(a-b)+v_p(m)+v_p(n)\\ &=v_p(a-b)+v_p(mn), \end{aligned}

suy ra mn\in S. \Box

Khẳng định 3. Nếu q là một số nguyên tố thì q\in S.

Chứng minh. Cố định số nguyên tố q và hai số nguyên a, b thỏa mãn các điều kiện của định lý. Xét hai trường hợp:

Trường hợp 1. q\not=p.

Ta có a^q-b^q=(a-b)(a^{q-1}+a^{q-2}b+\cdots+b^{q-1}) và thừa số thứ hai không chia hết cho p nên có ngay q\in S.

Trường hợp 2. q=p.

Viết a=b+p^kc với k\in\mathbb{N}^* và c là số nguyên không chia hết cho p. Theo định lí nhị thức, ta có:

a^p-b^p=p^{k+1}b^{p-1}c+C_p^2b^{p-2}p^{2k}c^2+\cdots+p^{kp}c^p.

Vì p là số nguyên tố lẻ và k\in\mathbb{N}^* nên trong tổng trên, trừ số hạng đầu, tất cả các số hạng còn lại đều chia hết cho p^{k+2}, suy ra:

v_p(a^p-b^p)=v_p(p^{k+1}b^{p-1}c)=k+1=v_p(a-b)+v_p(p),

hay q=p\in S. \Box

Từ ba khẳng định ta có S=\mathbb{N}^*. \Box

Nhận xét. Nếu p là số nguyên tố lẻ thỏa mãn a \equiv -b \not\equiv 0 \pmod p và n là số lẻ thì:

v_p(a^n + b^n) = v_p(a + b) + v_p(n).

A Proof of Beatty’s Theorem


Cho số thực \alpha. Dãy Beatty của \alpha là dãy (a_n)_{n\geq 1} xác định bởi a_n=[n\alpha],\quad \forall n\geq 1.

Định lý (Beatty). Cho hai số thực dương \alpha và \beta. Khi đó các dãy Beatty của \alpha và \beta làm thành một phân hoạch của tập các số nguyên dương khi và chỉ khi \alpha và \beta là các số vô tỷ và

\displaystyle \frac{1}{\alpha}+\frac{1}{\beta}=1.

Chứng minh. Đặt S_{\alpha}=\{[n\alpha]|n=1,2,\ldots\} và \displaystyle S_{\beta}=\{[n\beta]|n=1,2,\ldots\}.

Giả sử S_{\alpha} và S_{\beta} làm thành một phân hoạch của tập các số nguyên dương. Ta thấy ngay \alpha và \beta lớn hơn 1, suy ra hai dãy Beatty của hai số này là các dãy tăng. Ta sẽ sử dụng phương pháp mật độ trong lý thuyết số giải tích.

Với mỗi số nguyên dương k, cố định nó. Xét một số nguyên dương n, ta có

\displaystyle [n\alpha]\leq k\Leftrightarrow n\alpha < k+1\Leftrightarrow n < \dfrac{k+1}{\alpha}.

Suy ra |S_{\alpha}\cap \{1, 2, \ldots, k\}|=\left[\dfrac{k+1}{\alpha}\right] hoặc \left[\dfrac{k+1}{\alpha}\right]-1 tùy theo \dfrac{k+1}{\alpha} không nằm trong hay nằm trong \mathbb{Z}. Chứng minh tương tự ta có \displaystyle |S_{\beta}\cap \{1, 2, \ldots, k\}|=\left[\dfrac{k+1}{\beta}\right] hoặc \left[\dfrac{k+1}{\beta}\right]-1 tùy theo \dfrac{k+1}{\beta} không nằm trong hay nằm trong \mathbb{Z}.

Mà |S_{\alpha}\cap \{1, 2, \ldots, k\}|+|S_{\beta}\cap \{1, 2, \ldots, k\}|=k, suy ra

\displaystyle -2+\left[\dfrac{k+1}{\alpha}\right]+\left[\dfrac{k+1}{\beta}\right]\leq k\leq \left[\dfrac{k+1}{\alpha}\right]+\left[\dfrac{k+1}{\beta}\right].

Kết hợp với định nghĩa phần nguyên ta được

\displaystyle -4+\dfrac{k+1}{\alpha}+\dfrac{k+1}{\beta} < k\leq \dfrac{k+1}{\alpha}+\dfrac{k+1}{\beta}.

Chia các vế cho k và cho k\to+\infty ta có \dfrac{1}{\alpha}+\dfrac{1}{\beta}=1. Nếu \alpha là số hữu tỷ thì từ đẳng thức này ta có \beta cũng là số hữu tỷ. Viết \displaystyle \alpha=\dfrac{p}{q},\quad \beta=\dfrac{r}{s}, với p, q, r, và s là các số nguyên dương. Ta thấy S_{\alpha}\cap S_{\beta}\not=\emptyset, chẳng hạn pr thuộc cả hai tập này, suy ra vô lý. Bởi vậy \alpha là số vô tỷ, và \beta cũng thế.

Bây giờ giả sử ngược lại, \alpha và \beta là các số vô tỷ và \dfrac{1}{\alpha}+\dfrac{1}{\beta}=1. Ta thấy ngay \alpha và \beta lớn hơn 1, suy ra hai dãy Beatty của hai số này là các dãy tăng. Nếu S_{\alpha}\cap S_{\beta}\not=\emptyset thì tồn tại các số nguyên dương k,m và n sao cho k=[m\alpha]=[n\beta]. Suy ra

\displaystyle k\leq m\alpha < k+1,\quad k\leq n\beta < k+1.

Vì \alpha và \beta là các số vô tỷ nên

\displaystyle k < m\alpha < k+1,\quad k < n\beta < k+1,

suy ra

\displaystyle \frac{k}{\alpha} < m < \frac{k+1}{\alpha},\quad \frac{k}{\beta} < n < \frac{k+1}{\beta},

cộng theo vế ta có k < m+n < k+1, vô lý. Như vậy S_{\alpha}\cap S_{\beta}=\emptyset.

Nếu tồn tại số nguyên dương l sao cho l\not\in S_{\alpha}\cup S_{\beta} thì tồn tại các số nguyên không âm p và q sao cho

\displaystyle [p\alpha] < l < [(p+1)\alpha], \quad [q\beta] < l < [(q+1)\beta].

Vì l là số nguyên nên từ các bất đẳng thức trên ta suy ra p\alpha < l, đồng thời [(p+1)\alpha] \geq l+1 kéo theo (p+1)\alpha \geq l+1. Lập luận tương tự cho \beta, ta được

\displaystyle p\alpha < l < l+1\leq (p+1)\alpha,\quad q\beta < l < l+1\leq (q+1)\beta.

Vì \alpha,\beta là các số vô tỷ nên

\displaystyle p\alpha < l < l+1 < (p+1)\alpha,\quad q\beta < l < l+1 < (q+1)\beta.

Chia các vế cho \alpha,\beta và cộng lại ta có

\displaystyle p+q < l < l+1 < p+q+2,

điều này không thể xảy ra (do khoảng mở (p+q, p+q+2) có độ dài bằng 2 nên chỉ chứa đúng một số nguyên là p+q+1). \blacksquare