Discrete random variables


Ta thường không quan tâm đến thí nghiệm mà chỉ quan tâm đến một số hệ quả từ thí nghiệm đó. Chẳng hạn, những tay cờ bạc chỉ quan tâm đến số tiền họ được hay mất, không quan tâm mấy đến trò chơi. Nhiều hệ quả từ thí nghiệm có thể được biểu diễn  bằng một hàm trên không gian mẫu của thí nghiệm.

Định nghĩa 1. Cho một không gian xác suất (\Omega,\mathcal{F},\mathbb{P}). Một biến ngẫu nhiên là một hàm X:\Omega\to\mathbb{R} sao cho với mỗi x\in\mathbb{R}, \{\omega\in\Omega\mid X(\omega)\leq x\}\in\mathcal{F}.

Một biến ngẫu nhiên được gọi là rời rạc nếu nó chỉ nhận giá trị trong một tập hợp đếm được.

Không khó khăn lắm để thấy rằng nếu XY là các biến ngẫu nhiên (biến ngẫu nhiên rời rạc) thì X+Y, XY, và \alpha X (\alpha\in\mathbb{R}) cũng là các biến ngẫu nhiên (biến ngẫu nhiên rời rạc).

Định nghĩa 2. Cho một không gian xác suất (\Omega,\mathcal{F},\mathbb{P}) và một biến ngẫu nhiên X:\Omega\to\mathbb{R}. Hàm phân bố của biến ngẫu nhiên X là hàm F_X:\mathbb{R}\to [0;1] xác định bởi

F_X(x)=\mathbb{P}(\{\omega\in\Omega\mid X(\omega)\leq x\}),\quad\forall x\in\mathbb{R}.

Để cho gọn, ta viết sự kiện \{\omega\in\Omega\mid X(\omega)\leq x\} bởi \{ X\leq x\}. Khi đó xác suất \mathbb{P}(\{\omega\in\Omega\mid X(\omega)\leq x\}) sẽ được viết là \mathbb{P}( X\leq x).

Ví dụ 1. Tung một đồng xu hai lần. Không gian mẫu của phép thử là \Omega =\{NN,SS,SN,NS\}. Xét biến ngẫu nhiên X, số mặt ngửa, xác định bởi

X(NN)=2, X(SS)=0, X(SN)=1, X(NS)=1.

Hàm phân bố của F_X:\mathbb{R}\to [0;1] của X xác định bởi

F_X(x)=\begin{cases}0,\quad x<0\\ 1/4,\quad 0\leq x<1\\ 3/4,\quad 1\leq x<2\\ 1,\quad x\geq 2.\end{cases}

Ví dụ 2. Xét không gian xác suất (\Omega,\mathcal{F},\mathbb{P}) và một biến cố A. Hàm chỉ báo của A là hàm I_A: \Omega\to \mathbb{R} xác định bởi

I_A(\omega)=\begin{cases}1,\quad \omega\in A\\ 0,\quad \omega\not\in A.\end{cases}

Ta thấy I_A là một biến ngẫu nhiên rời rạc với hàm phân bố F:\mathbb{R}\to [0;1] xác định bởi

F(x)=\begin{cases}0,\quad x<0\\ 1-\mathbb{P}(A),\quad 0\leq x<1\\ 1,\quad x\geq 1. \end{cases}

Nếu \{A_i\}_{i\in I} là một họ các biến cố đôi một rời nhau sao cho \displaystyle A\subset \bigcup_{i\in I} A_i thì

I_A(\omega)=\sum_{i\in I}I_{A\cap A_i}(\omega),\quad \forall \omega\in \Omega. \Box

Định lý 1. Hàm phân bố F_X của biến ngẫu nhiên X có các tính chất sau

(a) với mỗi số thực x_1x_2, nếu x_1<x_2 thì F_X(x_1)\leq F_X(x_2).

(b) \displaystyle \lim_{x\to -\infty}F_X(x)=0\displaystyle \lim_{x\to +\infty}F_X(x)=1.

(c) F_X liên tục phải tại mọi điểm.

Chứng minh. Xét hai số thực x_1x_2 với x_1<x_2. Biến cố \{X\leq x_2\} là hợp của hai biến cố rời nhau \{X\leq x_1\}\{x_1<X\leq x_2\} nên

F_X(x_2)=\mathbb{P}(X\leq x_2)=\mathbb{P}(X\leq x_1)+\mathbb{P}(x_1<X\leq x_2)\geq \mathbb{P}(X\leq x_1)=F_X(x_1).

Ta có \{X\leq n\}_{n\geq 1} là một dãy tăng các sự kiện có hợp bằng \Omega, theo định lý 1 trong [1], ta có

1=\mathbb{P}(\Omega)=\mathbb{P}\left(\bigcup_{n=1}^{+\infty}\{X\leq n\}\right)=\lim_{n\to +\infty}\mathbb{P}(X\leq n),

kết hợp với tính đơn điệu của F_X ta được \displaystyle \lim_{x\to +\infty}F_X(x)=1. Tính chất \displaystyle \lim_{x\to -\infty}F_X(x)=0 được chứng minh theo cách tương tự.

Bây giờ xét một số thực x_0. Ta thấy \{x_0<X\leq x_0+\frac{1}{n}\}_{n\geq 1} là một dãy giảm các sự kiện có giao bằng rỗng, theo định lý 2 trong [1], ta có

0=\mathbb{P}\left(\bigcap_{n=1}^{+\infty}\left\{x_0<X\leq x_0+\frac{1}{n}\right\}\right)=\lim_{n\to +\infty}\left(F_X\left(x_0+\frac{1}{n}\right)-F_X(x_0)\right),

kết hợp với tính đơn điệu của F_X ta có F_X liên tục phải tại x_0. \Box

Continue reading “Discrete random variables”

Tree


Một đồ thị không chứa chu trình được gọi là một rừng. Một rừng liên thông được gọi là một cây.

Ví dụ 1. Cho G là một cây trên n>1 đỉnh. Chứng minh rằng G có ít nhất hai lá, và nếu v là một lá thì G\setminus\{v\} là một cây.

Hướng dẫn. Trong các đường đi của G, quan tâm đến một đường đi dài nhất. Chứng minh hai đầu của nó là lá. Chỉ ra G\setminus\{v\} là một rừng liên thông. \Box

Định lý 1. Với một đồ thị G, các khẳng định sau là tương đương:

(1) G là một cây;

(2) Mỗi hai đỉnh của G được nối với nhau bởi một đường đi duy nhất trong G;

(3) G là đồ thị liên thông và với mỗi cạnh e, đồ thị có được từ G bằng cách bỏ đi cạnh e không phải là đồ thị liên thông;

(4) G không chứa chu trình và với mỗi hai đỉnh không kề nhau xy, đồ thị có được từ G bằng cách thêm vào cạnh xy chứa một chu trình.

Chứng minh. Giả sử G là một cây và x, y là hai đỉnh của G. Vì G là đồ thị liên thông nên có một đường đi nối xy, ký hiệu là \alpha. Nếu có một đường đi khác đường đi này nối xy, ký hiệu là \beta, gọi z là đỉnh chung gần x nhất của hai đường đi. Đường đi từ x đến z dọc theo \alpha hợp với đường đi từ z đến x dọc theo \beta tạo thành một chu trình, vô lý. Vậy ta đã chứng minh (1)\Rightarrow (2).

Xét một cạnh e=xy của G. Nếu đồ thị có được từ G bằng cách bỏ đi cạnh e là đồ thị liên thông, thì trong G có một đường đi nối xy mà không chứa e. Đường đi này cùng với e là hai đường đi nối xy. Vậy ta đã chứng minh (2)\Rightarrow (3), vì nếu có (2) thì đồ thị phải là đồ thị liên thông.

Bây giờ giả sử có (3). Trước tiên ta thấy G không chứa chu trình, vì nếu không ta bỏ đi một cạnh của chu trình thì đồ thị mới vẫn liên thông, vô lý. Xét hai đỉnh không kề nhau xy. Vì G là đồ thị liên thông nên có đường đi nối xy. Thêm cạnh xy vào đường đi này ta có một chu trình trong đồ thị có được từ G bằng cách thêm vào cạnh xy. Vậy ta có (4).

Cuối cùng, ta giả sử có (4). Xét hai đỉnh phân biệt xy. Nếu xy kề nhau thì có đường đi nối xy, là xy chẳng hạn. Nếu xy không kề nhau thì đồ thị có được từ G bằng cách thêm vào cạnh xy chứa một chu trình. Vì G không chứa chu trình nên chu trình này chứa xy, bỏ xy ra khỏi nó ta có đường đi trong G nối xy. Vậy ta có (1). \Box

Hệ quả. Một đồ thị liên thông trên n đỉnh là một cây khi và chỉ khi nó có n-1 cạnh.

Chứng minh. Giả sử G là một cây trên n đỉnh. Vì G là đồ thị liên thông nên theo định lý 1 trong [4], ta có thể đánh số các đỉnh của Gv_1, v_2, \ldots, v_n sao cho G_i:=G[v_1,v_2,\ldots,v_i] là đồ thị liên thông với mọi i. Do G là một cây nên mỗi G_i là một cây. Giả sử G_ii-1 cạnh với mọi chỉ số i<k (k là một số nguyên dương sao cho k\leq n). Vì G_k là liên thông nên với mỗi i<k, có đường đi trong G_k nối v_iv_k. Trong tất cả các đường đi như thế, xét đường đi ngắn nhất và giả sử nó nối v_1v_k. Đường đi này phải có độ dài bằng 1, hay v_kv_1 kề nhau trong G. Vì G không có chu trình nên trong G_{k-1}, chỉ có đúng một đỉnh kề với v_k, suy ra G_kk-2+1=k-1 cạnh. Theo nguyên lý quy nạp toán học, G=G_nn-1 cạnh.

Ngược lại, giả sử G là một đồ thị liên thông trên n đỉnh và có n-1 cạnh. Gọi T là một đồ thị con bao trùm liên thông cực tiểu của G. Do tính cực tiểu, khi bỏ mỗi cạnh ra khỏi T thì đồ thị thu được không liên thông, suy ra theo định lý 1 thì T là một cây. Cây này có số cạnh bằng n-1 theo phần đầu của chứng minh, do đó T=G. \Box

Trong một số vấn đề, việc xét một cây với gốc sẽ rất thuận tiện. Giả sử có một cây T và một đỉnh cố định r, gọi là gốc của cây. Với hai đỉnh xy của T, có đúng một đường đi nối xy, ta ký hiệu nó là xTy. Với a,b\in T, ta viết a\leq_T b (hoặc a\leq b khi không sợ nhầm lẫn) nếu a\in rTb. Ta thấy \leq_T là một quan hệ thứ tự bộ phận trên T, gọi là thứ tự cây. Khi a<b ta nói b nằm trên a, hay a nằm dưới b. Theo quan hệ thứ tự này thì r là phần tử nhỏ nhất của T, mỗi lá là phần tử cực đại. Hai đầu mút của mỗi cạnh của T là so sánh được.

Ví dụ 2. Cho số nguyên n lớn hơn 1 và một cây trên n đỉnh. Các đỉnh của cây được viết các số thực x_1, x_2, \ldots, x_n. Mỗi cạnh của cây được viết tích của hai số được viết trên các đầu mút của cạnh, gọi S là tổng tất cả các số này. Chứng minh rằng

\displaystyle\sqrt{n-1}\left(x_1^2+x_2^2+\dots+x_n^2\right)\geq 2S.

Lời giải. Giả sử tập các đỉnh của cây là V=\{v_1, v_2, \ldots, v_n\} sao cho với mỗi i, số được viết trên v_ix_i. Với hai đỉnh kề nhau v_iv_j, gọi P(i,j) là tập các đỉnh của cây không nối được đến v_i bởi một đường đi sau khi xóa khỏi cây cạnh v_iv_j. Ta có ngay 1\leq \mid P(i,j)\mid \leq n-1 mỗi khi v_iv_j kề nhau.

Nhận xét 1. Nếu v_iv_j kề nhau thì \mid P(i,j)\mid +\mid P(j,i)\mid=n.

Chứng minh. Gọi v là một đỉnh của cây, và xem nó là gốc. Ta có v_iv_j là so sánh được theo thứ tự cây. Nếu v_i<v_j thì v\in P(j,i), nếu v_j<v_i thì v\in P(i,j), nhưng không thể có cả hai. Như vậy V được phân hoạch thành P(i,j)P(j,i), từ đây ta có điều cần chứng minh. \Box

Nhận xét 2. Với mỗi i,

\displaystyle \sum_{v_j\in N(v_i)}\mid P(i,j)\mid =n-1.

Chứng minh. Cố định một chỉ số i. Do mỗi đỉnh đều nối đến v_i bởi một đường đi duy nhất và cây không có chu trình nên các P(i,j) với v_j\in N(v_i) làm thành một phân hoạch của V\setminus\{v_i\}, từ đây ta có điều cần chứng minh. \Box

Bây giờ với mỗi cạnh v_iv_j, theo nhận xét 1 ta có

\displaystyle \mid P(i,j)\mid .\mid P(j,i)\mid=\frac{n^2-(\mid P(i,j)\mid -\mid P(j,i)\mid)^2}{4}\geq n-1,

suy ra

\displaystyle\frac{\mid P(i,j)\mid}{\sqrt{n-1}}x_i^2+\frac{\mid P(j,i)\mid}{\sqrt{n-1}}x_j^2\geq 2\sqrt{\frac{\mid P(i,j)\mid .\mid P(j,i)\mid}{n-1}}|x_ix_j|\geq 2x_ix_j.

Mỗi cạnh cho ta một bất đẳng thức có dạng như trên, cộng theo vế các bất đẳng thức này ta có bất đẳng thức trong đề bài. \Box

Tài liệu tham khảo

[1] https://nttuan.org/2009/08/13/graph01/

[2] https://nttuan.org/2023/09/01/graph02/

[3] https://nttuan.org/2024/06/04/graph03/

[4] https://nttuan.org/2024/07/01/connected-graph/

Connected graph 


Một đồ thị (xem lại [2]) khác rỗng G được gọi là liên thông nếu mỗi hai đỉnh của nó được nối với nhau bởi một đường đi (xem lại [3]).

Định lý 1. Các đỉnh của một đồ thị liên thông G có thể đánh số v_1, v_2, \ldots, v_n sao cho G_i:=G[v_1,v_2,\ldots,v_i] là đồ thị liên thông với mọi i.

Chứng minh. Lấy một đỉnh v_1, và giả sử đã đánh số được các đỉnh v_1, v_2, \ldots, v_i thỏa mãn tính chất trong định lý, ở đây i<\mid G\mid. Giả sử v là một đỉnh khác tất cả các đỉnh đã được đánh số. Vì G là đồ thị liên thông nên tồn tại đường đi P nối v với v_1. Chọn v_{i+1} là đỉnh cuối của P mà không thuộc G_i, khi đó v_{i+1} có một láng giềng trong G_iG_{i+1} liên thông. \Box

Hệ quả. Một đồ thị liên thông trên n đỉnh sẽ có ít nhất n-1 cạnh.

Chứng minh. Quy nạp theo n và dùng định lý 1. Bạn đọc tự chứng minh xem như một bài tập. \Box

Cho đồ thị G=G(V,E). Một đồ thị con liên thông cực đại (cực đại theo nghĩa không có đồ thị con liên thông chứa và khác nó, xem lại [2]) của G được gọi là thành phần liên thông của G. Đương nhiên, các thành phần liên thông là các đồ thị con cảm sinh (xem lại [2]) của G, và tập các đỉnh của chúng lập thành một phân hoạch của V. Một đồ thị là liên thông nếu và chỉ nếu nó có đúng một thành phần liên thông.

Ví dụ 1. Cho G là một đồ thị với m cạnh và p thành phần liên thông. Chứng minh rằng m+p\geq \mid G\mid.

Lời giải. Gọi n_i là số đỉnh của thành phần liên thông thứ i. Khi đó số cạnh của thành phần liên thông thứ i không bé hơn n_i-1, do đó

m\geq \sum (n_i-1)=-p+\sum n_i=\mid G\mid -p,

và bài toán được giải. \Box

Ví dụ 2. Cho G là một đồ thị con không liên thông của K_n. Chứng minh rằng \overline{G} là một đồ thị con liên thông của K_n.

Lời giải. Gọi G^{\prime} là một thành phần liên thông của G. Vì G không liên thông nên G\setminus G^{\prime} khác rỗng. Do tính cực đại của thành phần liên thông, không có cạnh nào của G nối một đỉnh của G^{\prime} với một đỉnh của G\setminus G^{\prime}. Suy ra trong \overline{G}, mỗi đỉnh của G^{\prime} sẽ nối với mỗi đỉnh của G\setminus G^{\prime}.

Vậy muốn chứng minh \overline{G} liên thông, ta chỉ cần chứng minh hai đỉnh cùng thuộc G^{\prime} hoặc G\setminus G^{\prime} được nối với nhau. Nếu hai đỉnh cùng thuộc G^{\prime} thì ta nối chúng với nhau qua một đỉnh của G\setminus G^{\prime}, và ngược lại. \Box

Cho số tự nhiên k. Một đồ thị G=(V,E) được gọi là $k-$liên thông nếu k<\mid G\midG\setminus X vẫn là đồ thị liên thông với mọi X\subset V\mid X\mid<k. Số k lớn nhất sao cho Gk-liên thông được gọi là chỉ số liên thông của G, ký hiệu k(G).

Ví dụ 3. k(K_n)=n-1 với mỗi số nguyên dương n.

Lời giải. Bạn đọc tự giải xem như bài tập. \Box

Định lý 2 (Whitney, 1932). Cho đồ thị G=(V,E) với \mid G\mid\geq 3. Khi đó G2-liên thông khi và chỉ khi với hai đỉnh phân biệt bất kỳ của G, tồn tại hai đường đi rời nhau nối chúng (hai đường đi được gọi là rời nhau nếu chúng không có đỉnh trong chung). 

Chứng minh. Khẳng định đúng hiển nhiên khi \mid G\mid =3. Bây giờ ta xét \mid G\mid >3. Đầu tiên, giả sử với hai đỉnh phân biệt bất kỳ của G tồn tại hai đường đi rời nhau nối chúng. Gọi w là một đỉnh bất kỳ và u,v là hai đỉnh khác nhau của G\setminus\{w\}. Giữa uv sẽ có hai đường đi rời nhau nối chúng, w sẽ không thuộc một trong hai đường này, ký hiệu P. Ta có P là một đường trong G\setminus\{w\} nối uv. Suy ra G\setminus\{w\} liên thông, do đó G2-liên thông.

Bây giờ giả sử G2-liên thông và tồn tại hai đỉnh phân biệt uv mà không có hai đường đi rời nhau. Vì \mid G\mid >3 nên tồn tại ít nhất hai đường đi nối uv. Gọi PQ là hai đường đi nối uv mà có tập đỉnh chung S có ít phần tử nhất có thể. Lấy w\in S\setminus \{u,v\}P_1, P_2 là phần của P từ u đến w, w đến v. Tương tự ta định nghĩa Q_1Q_2.

G2-liên thông, ta có thể lấy một đường đi R ngắn nhất từ một đỉnh x thuộc (P_1\cup Q_1)\setminus \{w\} đến một đỉnh y thuộc (P_2\cup Q_2)\setminus \{w\} mà không qua w. Giả sử mà không làm mất tính tổng quát rằng x\in P_1y\in Q_2. Gọi T là đường đi nối u với v được hình thành bởi phần P_1 nối u với x, và phần Q_2 nối y với v, cùng với R. Do cách chọn R, hai đường đi TQ_1\cup P_2 cùng nối u với v nhưng có tập các đỉnh chung là tập con của S\setminus \{w\}, vô lý. \Box

Cho một đồ thị G. Đường đi P (không nhất thiết trong G) được gọi là G-đường nếu \mid P\mid >1P\cap G chỉ chứa hai đầu mút của P. Kết quả sau cho ta biết cấu trúc của các đồ thị 2-liên thông.

Định lý 3. Một đồ thị là 2-liên thông khi và chỉ khi nó có thể được dựng từ một chu trình bằng cách bổ sung liên tiếp các H-đường vào các đồ thị H đã được dựng.

Tài liệu tham khảo

[1] https://nttuan.org/2009/08/13/graph01/

[2] https://nttuan.org/2023/09/01/graph02/

[3] https://nttuan.org/2024/06/04/graph03/

The degree of a vertex


Bài này là phần tiếp theo của bài https://nttuan.org/2023/09/01/graph02/


Cho đồ thị \displaystyle G=(V,E). Bậc của một đỉnh \displaystyle v\in G, ký hiệu \displaystyle \deg_G(v) hoặc \displaystyle \deg (v), là số đỉnh của \displaystyle G kề với \displaystyle v.  Đỉnh có bậc bằng \displaystyle 0 được gọi là đỉnh cô lập. Đỉnh có bậc bằng 1 được gọi là lá. Nếu mọi đỉnh của \displaystyle G đều có bậc \displaystyle k thì ta nói \displaystyle G\displaystyle k-đều.

Định lý 1. Trong mỗi đồ thị có cấp lớn hơn \displaystyle 1, tồn tại ít nhất hai đỉnh có cùng bậc.

Chứng minh. Gọi \displaystyle n là cấp của đồ thị. Bậc của mỗi đỉnh của đồ thị là một số tự nhiên bé hơn \displaystyle n. Vì vậy, nếu các đỉnh của đồ thị có bậc đôi một khác nhau thì có đỉnh cô lập và có đỉnh kề với mọi đỉnh khác, vô lý. \Box

Định lý 2. Với mỗi đồ thị \displaystyle G=(V,E), ta có

\displaystyle \displaystyle \sum_{v\in V}\deg (v)=2\mid E\mid.

Chứng minh. Khi ta cộng tất cả bậc của các đỉnh, ta đã đếm mỗi cạnh đúng hai lần, một cho mỗi đầu mút của nó. \Box

Hệ quả. Số đỉnh bậc lẻ trong một đồ thị là số chẵn.

Ví dụ 1. Có đồ thị với dãy bậc của đỉnh như sau hay không?

(a) \displaystyle 3,2,2,2.

(b) \displaystyle 3,3,2,2.

(c) 4,4,1,1,1,1.

Hướng dẫn. Ý đầu là không vì tổng bậc phải chẵn, ý thứ hai là có. Ý thứ ba là không, vì nếu có thì khi xét hai đỉnh bậc \displaystyle 4, có ít nhất \displaystyle 6 cạnh đến các đỉnh bậc \displaystyle 1, vô lý. \Box

Vào năm 1960, Paul Erdos và Tibor Gallai đã tìm được kết quả sau:

Định lý 3 (Erdos-Gallai). Dãy số nguyên không âm \displaystyle d_1\geq d_2\geq\ldots \geq d_n là dãy bậc của một đồ thị trên \displaystyle n đỉnh khi và chỉ khi \displaystyle \sum d_i chẵn và

\displaystyle \sum_{i=1}^kd_i\leq k(k-1)+\sum_{i=k+1}^n\min\{d_i,k\},\quad \forall k=\overline{1,n}.

Ví dụ 2. Cho một tập hợp \displaystyle S gồm \displaystyle 100 điểm trong mặt phẳng sao cho khoảng cách giữa hai điểm bất kỳ trong \displaystyle S không bé hơn \displaystyle 1. Chứng minh rằng có không nhiều hơn \displaystyle 300 cặp điểm (không kể thứ tự) mà khoảng cách giữa hai điểm trong mỗi cặp bằng \displaystyle 1.

Hướng dẫn. Xét đồ thị \displaystyle G trên \displaystyle S được xác định như sau: Tập con \displaystyle \{A,B\} của \displaystyle S là một cạnh của \displaystyle G khi và chỉ khi \displaystyle AB=1.\displaystyle \deg (v)\leq 6 với mọi \displaystyle v\in S, nên \displaystyle \mid E(G)\mid \leq 1/2\times 6\times 100=300. \Box

Ví dụ 3. Cho một lớp học có số học sinh là số chẵn. Chứng minh rằng tồn tại hai học sinh trong lớp có số người quen chung trong lớp là số chẵn.

Lời giải. Xét đồ thị \displaystyle G trên tập hợp \displaystyle V các học sinh trong lớp được xác định như sau: với hai đỉnh \displaystyle a\displaystyle b của \displaystyle G, có một cạnh nối \displaystyle a\displaystyle b khi \displaystyle a\displaystyle b quen nhau. Giả sử ngược lại rằng với mỗi \displaystyle a\displaystyle b phân biệt thuộc \displaystyle V, \displaystyle \mid N(a)\cap N(b)\mid là số lẻ. Nói riêng, mỗi hai đỉnh có ít nhất một láng giềng chung.

Nhận xét. Mọi đỉnh của \displaystyle G đều có bậc chẵn.

Chứng minh. Xét một đỉnh \displaystyle x bất kỳ và xem \displaystyle N(x) như đồ thị con cảm sinh của \displaystyle G. Ta thấy \displaystyle \sum_{y\in N(x)}\deg_{N(x)}(y) là số chẵn và mỗi số hạng là lẻ, suy ra \mid N(x)\mid là số chẵn. \Box

Bây giờ cố định một đỉnh \displaystyle x bất kỳ của \displaystyle G. Đặt \displaystyle X=V\setminus (N(x)\cup \{x\}). Khi đó \displaystyle X có số phần tử lẻ. Ta quan tâm đến số \displaystyle \alpha các cạnh có một đầu mút thuộc \displaystyle X đầu mút kia thuộc \displaystyle N(x) theo hai cách. Nếu chọn đầu mút thuộc \displaystyle X trước thì ta thấy \displaystyle \alpha là số lẻ, trong khi nếu chọn đầu mút thuộc \displaystyle N(x) trước thì ta thấy \displaystyle \alpha là số chẵn (theo nhận xét), vô lý. \Box

Continue reading “The degree of a vertex”

Probability space


Các bạn đọc lại bài https://nttuan.org/2024/01/24/naive-definition-of-probability/ để theo dõi bài cho dễ dàng.


Một họ \mathcal{G} các tập con của một tập hợp \Omega được gọi là một đại số các tập con của \Omega nếu nó có ba tính chất sau:

(1) \Omega\in\mathcal{G}.

(2) Nếu C\in \mathcal{G} thì \Omega\setminus C\in\mathcal{G}.

(3) Nếu C_1,C_2,\ldots,C_n\in\mathcal{G} thì \displaystyle \bigcup_{i=1}^nC_i\in\mathcal{G}.

Ví dụ 1. Với tập hợp \displaystyle \Omega, ta có họ \displaystyle \mathcal{G}=\{\emptyset,\Omega\} là một đại số các tập con của \displaystyle \Omega. \Box

Bổ đề 1. Cho \displaystyle \mathcal{G} là một đại số các tập con của \displaystyle \Omega. Khi đó

(1) \displaystyle \emptyset\in\mathcal{G}.

(2) Nếu \displaystyle C_1,C_2,\ldots,C_n\in\mathcal{G} thì \displaystyle \bigcap_{i=1}^nC_i\in\mathcal{G}.

 (3) Nếu \displaystyle C_1,C_2\in\mathcal{G} thì C_1\setminus C_2\in\mathcal{G}.

Chứng minh.\displaystyle \Omega\in\mathcal{G} nên \displaystyle \emptyset=\Omega\setminus\Omega cũng thuộc \displaystyle \mathcal{G}. Nếu \displaystyle C_1, \displaystyle C_2, \displaystyle \ldots, \displaystyle C_n\in\mathcal{G} thì

\displaystyle \Omega\setminus \bigcap_{i=1}^nC_i=\bigcup_{i=1}^n(\Omega\setminus C_i)\in\mathcal{G},

suy ra \displaystyle \bigcap_{i=1}^nC_i\in\mathcal{G}. Cuối cùng, nếu \displaystyle C_1, \displaystyle C_2\in\mathcal{G} thì \displaystyle C_1\setminus C_2=\Omega\setminus ((\Omega\setminus C_1)\cup C_2)\in\mathcal{G}. \Box

Định nghĩa 1. Một họ \displaystyle \mathcal{G} các tập con của một tập hợp \displaystyle \Omega được gọi là một \displaystyle \sigma-đại số các tập con của \displaystyle \Omega nếu nó có ba tính chất sau:

(1) \displaystyle \Omega\in\mathcal{G}.

(2) Nếu \displaystyle C\in \mathcal{G} thì \displaystyle \Omega\setminus C\in\mathcal{G}.

(3) Nếu \displaystyle C_1,C_2,\ldots\in\mathcal{G} thì \displaystyle \bigcup_{i=1}^{\infty}C_i\in\mathcal{G}.

Lúc này ta gọi \displaystyle \Omega là không gian mẫu và các phần tử của \displaystyle \mathcal{G} là các biến cố, hay sự kiện. 

Mỗi \displaystyle \sigma-đại số là một đại số, ngược lại không đúng.

Ví dụ 2. \displaystyle \sigma-đại số nhỏ nhất các tập con của \displaystyle \Omega\displaystyle \{\emptyset,\Omega\}. \Box

Ví dụ 3. Nếu \displaystyle A là một tập con của \displaystyle \Omega thì \displaystyle \{\emptyset,\Omega,A,\overline{A}\} là một \displaystyle \sigma-đại số các tập con của \displaystyle \Omega. \Box

Ví dụ 4. Họ tất cả các tập con của \displaystyle \Omega\displaystyle \sigma-đại số lớn nhất các tập con của \displaystyle \Omega. \Box

Định nghĩa 2. Một không gian đo được là một cặp \displaystyle (\Omega,\mathcal{F}), trong đó \displaystyle \Omega là một tập hợp và \displaystyle \mathcal F là một \displaystyle \sigma-đại số các tập con của \displaystyle \Omega. Khi \displaystyle \Omega là hữu hạn hoặc đếm được thì không gian đo được \displaystyle (\Omega,\mathcal{F}) được gọi là rời rạc.

Mỗi khi xét không gian đo được rời rạc (\Omega,\mathcal{F}), ta chỉ xét \mathcal F\sigma-đại số tất cả các tập con của \Omega.

Định nghĩa 3. Cho một không gian đo được \displaystyle (\Omega,\mathcal{F}). Độ đo xác suất \displaystyle \mathbb{P} trên \displaystyle (\Omega,\mathcal{F}) là một hàm \displaystyle \mathbb{P}:\mathcal{F}\to [0;1] thỏa mãn đồng thời hai điều sau:

(1) \displaystyle \mathbb{P}(\emptyset)=0\mathbb{P}(\Omega)=1.

(2) Nếu \displaystyle A_1,A_2,\ldots là một dãy các phần tử đôi một rời nhau của \displaystyle \mathcal F thì \displaystyle \mathbb{P}\left(\bigcup_{i=1}^{\infty}A_i\right)=\sum_{i=1}^{\infty}\mathbb{P}(A_i).

Lúc này thì bộ ba \displaystyle (\Omega,\mathcal{F},\mathbb{P}) được gọi là không gian xác suất. Với mỗi sự kiện \displaystyle A, ta gọi \displaystyle \mathbb{P}(A) là xác suất của \displaystyle A.

Với không gian xác suất \displaystyle (\Omega,\mathcal{F},\mathbb{P}) và biến cố \displaystyle A, ta gọi \displaystyle A là biến cố rỗng nếu \displaystyle \mathbb{P}(A)=0 và là biến cố chắc chắn nếu \displaystyle \mathbb{P}(A)=1. Ta có thể xác định một không gian xác suất tương ứng với mỗi phép thử. Khi đó các bài toán liên quan đến phép thử sẽ chuyển về các bài toán trong không gian xác suất tương ứng.

Ví dụ 5. Một đồng xu, có thể không cân, được tung lên một lần. Với phép thử này ta xác định không gian xác suất \displaystyle (\Omega,\mathcal{F},\mathbb{P}) như sau: Không gian mẫu \displaystyle \Omega=\{0;1\} (như trong bài trước, sấp được ghi là \displaystyle 1 và ngửa được ghi là \displaystyle 0), \displaystyle \mathcal{F} là họ tất cả các tập con của \displaystyle \Omega, và độ đo xác suất \displaystyle \mathbb{P}:\mathcal{F}\to [0;1] được định nghĩa bởi

 \displaystyle\mathbb{P}(\emptyset)=0,\,\mathbb{P}(\Omega)=1,\,\mathbb{P}(\{1\})=p,\,\mathbb{P}(\{0\})=1-p.

Ở đây \displaystyle p là một số thực thuộc đoạn \displaystyle [0;1]. Đồng xu này là cân đối nếu \displaystyle p=1/2. \Box

Ví dụ 6. Một con xúc xắc được tung một lần. Với phép thử này ta xác định không gian xác suất \displaystyle (\Omega,\mathcal{F},\mathbb{P}) như sau: Không gian mẫu \displaystyle \Omega=[6], \mathcal{F} là họ tất cả các tập con của \displaystyle \Omega, và độ đo xác suất \displaystyle \mathbb{P}:\mathcal{F}\to [0;1] được định nghĩa bởi

 \displaystyle \mathbb{P}(A)=\sum_{i\in A}p_i, \quad \forall A\subset \Omega.

Ở đây \displaystyle p_1,p_1,\ldots,p_6 là các số thực không âm có tổng bằng \displaystyle 1. Xác suất để xuất hiện mặt có \displaystyle i chấm là \displaystyle p_i. Con xúc xắc này là cân đối nếu các \displaystyle p_i đều bằng \displaystyle 1/6. Khi đó \displaystyle \mathbb{P}(A)=\frac{\mid A\mid }{6}, \quad \forall A\subset \Omega, bằng xác suất xảy ra \displaystyle A theo định nghĩa ngây thơ (cổ điển) của xác suất. \Box

Sau đây là một số tính chất của độ đo xác suất.

Bổ đề 2. Cho một không gian xác suất \displaystyle (\Omega,\mathcal{F},\mathbb{P}). Khi đó

(1) Với mỗi biến cố A, ta có \displaystyle \mathbb{P}(\overline{A})=1-\mathbb{P}({A}).

(2) Nếu \displaystyle A\displaystyle B là các biến cố thỏa mãn \displaystyle A\subset B thì \displaystyle \mathbb{P}({B})=\mathbb{P}({A})+\mathbb{P}({B\setminus A})\geq \mathbb{P}({A}).

(3) Nếu \displaystyle A_1,A_2,\ldots,A_n\displaystyle n>1 biến cố thì

 \displaystyle \mathbb{P}\left(\bigcup_{i=1}^nA_i\right)=\sum_{i=1}^n\mathbb{P}({A_i})-\sum_{i<j}\mathbb{P}({A_i\cap A_j})+\sum_{i<j<k}\mathbb{P}({A_i\cap A_j\cap A_k}) \displaystyle -\ldots +(-1)^{n+1}\mathbb{P}(A_1\cap A_2\cap \ldots \cap A_n).

Chứng minh. Xét một biến cố \displaystyle A. Vì \displaystyle\Omega=A\cup\overline{A}\displaystyle A\cap\overline{A}=\emptyset nên

\displaystyle 1=\mathbb{P}(\Omega)=\mathbb{P}(A\cup\overline{A})=\mathbb{P}({A})+\mathbb{P}\overline{A}),

suy ra \displaystyle \mathbb{P}(\overline{A})=1-\mathbb{P}({A}). Bây giờ xét hai biến cố \displaystyle A\displaystyle B với \displaystyle A\subset B. Vì biến cố \displaystyle B là hợp của hai biến cố rời nhau \displaystyle A\displaystyle B\setminus A nên

 \displaystyle\mathbb{P}({B})=\mathbb{P}({A})+\mathbb{P}({B\setminus A})\geq \mathbb{P}({A}).

Ta sẽ chứng minh khẳng định cuối cùng bằng quy nạp theo \displaystyle n. Xét hai biến cố \displaystyle A\displaystyle B. Biến cố \displaystyle A\cup B là hợp của hai biến cố rời nhau \displaystyle A\displaystyle B\setminus A nên

\displaystyle\mathbb{P}(A\cup {B}) =\mathbb{P}({A})+\mathbb{P}({B\setminus A})=  \mathbb{P}({A})+\mathbb{P}({B\setminus (A\cap B)})=\mathbb{P}({A})+\mathbb{P}({B})-\mathbb{P}(A\cap B),

suy ra khẳng định đúng với \displaystyle n=2. Bây giờ giả sử khẳng định đúng với số nguyên dương \displaystyle n= k\, (k>1). Xét \displaystyle k+1 biến cố \displaystyle A_1, \displaystyle A_2,\ldots, \displaystyle A_{k+1}. Vì khẳng định đúng với \displaystyle n=2 nên

\displaystyle \mathbb{P}\left(\bigcup_{i=1}^{k+1}A_i\right)=\mathbb{P}\left(\left(\bigcup_{i=1}^{k}A_i\right)\bigcup A_{k+1}\right)

\displaystyle =\mathbb{P}\left(\bigcup_{i=1}^{k}A_i\right)+\mathbb{P}\left(A_{k+1}\right)-\mathbb{P}\left(\left(\bigcup_{i=1}^{k}A_i\right)\bigcap A_{k+1}\right)

\displaystyle =\mathbb{P}\left(\bigcup_{i=1}^{k}A_i\right)+\mathbb{P}\left(A_{k+1}\right)-\mathbb{P}\left(\bigcup_{i=1}^{k}\left(A_i\bigcap A_{k+1}\right)\right).

Đến đây dùng giả thiết quy nạp ta thấy khẳng định đúng với \displaystyle n=k+1. Theo nguyên lý quy nạp toán học, khẳng định đúng với mỗi số nguyên \displaystyle n>1. \Box

Từ chứng minh trên, bằng quy nạp theo n, ta thu được \displaystyle \mathbb{P}\left(\bigcup_{i=1}^nA_i\right)\leq\sum_{i=1}^n\mathbb{P}(A_i).

Continue reading “Probability space”