Basic counting principles


Nguyên lý thứ nhất (Quy tắc cộng). Giả sử có n_1 cách thực hiện việc E_1, n_2 cách thực hiện việc E_2,…,n_k cách thực hiện việc E_k. Nếu k việc này không thể làm đồng thời thì sẽ có n_1+n_2+\cdots+n_k cách thực hiện một trong các việc E_1,E_2,\ldots,E_k.

Ví dụ 1. Người ta có thể đi từ Hải Phòng đến Đà Nẵng bằng một trong ba phương tiện: tàu hoả, tàu thuỷ và máy bay. Nếu có hai cách đi bằng tàu hoả, ba cách đi bằng tàu thuỷ, và 1 cách đi bằng máy bay thì sẽ có 2+3+1=6 cách đi từ Hải Phòng đến Đà Nẵng. \Box

Ví dụ 2. Tìm số các cặp có thứ tự (x;y) các số nguyên thoả mãn x^2+y^2\leq 5.

Lời giải. Mỗi i=0,1,2,3,4,5 ta đặt S_i=\{(x,y)|x,y\in\mathbb{Z},x^2+y^2=i\}, khi đó tập cần tính số phần tử sẽ là hợp rời rạc của các S_i. Ta tính số phần tử của các S_i bằng phương pháp liệt kê và cuối cùng được đáp số của bài toán là 21. \Box

Nguyên lý thứ hai (Quy tắc nhân). Giả sử rằng việc E có thể được làm bằng cách thực hiện liên tiếp các việc E_1,E_2,\ldots,E_k; và có n_1 cách thực hiện việc E_1, n_2 cách thực hiện việc E_2,…,n_k cách thực hiện việc E_k. Khi đó số cách làm việc E là n_1\times n_2\times\cdots\times n_k.

Ví dụ 3. Đề đi từ thành phố A đến thành phố D người ta phải đi lần lượt qua hai thành phố B và C. Nếu có hai cách đi từ A đến $B$, ba cách đi từ B đến C và một cách đi từ C đến D thì sẽ có 2\times 3\times 1=6 cách đi từ A đến D. \Box

Ví dụ 4. Cho k và n là các số nguyên dương. Một dãy k-phân độ dài n là một dãy (a_1,a_2,\ldots,a_n) với a_1,a_2,\ldots,a_n\in\{0,1,\ldots,k-1\}. Hỏi có bao nhiêu dãy này?

Lời giải. Đặt A=\{0,1,\ldots,k-1\}. Để hình thành một dãy k-phân, đầu tiên chúng ta cần chọn a_1 từ B, sau đó chọn a_2 từ B, và cứ như thế cho đến cuối cùng cần chọn a_n từ B. Bởi vì có k cách để làm mỗi bước nên theo quy tắc nhân, số các dãy như vậy bằng k^n. \Box

Ví dụ 5. Tìm số các ước dương của 600.

Lời giải. Ta có 600=2^3\times 3^1\times 5^2 nên một số nguyên dương m là một ước dương của 600 khi và chỉ khi nó có dạng m=2^a\times 3^b\times 5^c với a,b,c là các số nguyên thoả mãn 0\leq a\leq 3,0\leq b\leq 1,0\leq c\leq 2. Như vậy số các ước dương của 600 bằng số các bộ ba (a,b,c) thoả mãn a\in\{0,1,2,3\},b\in\{0,1\},c\in\{0,1,2\}, theo quy tắc nhân, số ước dương của 600 bằng 4\times 2\times 3=24. \Box

Tổng quát hơn ta có: Nếu số nguyên dương n có phân tích tiêu chuẩn n=\prod p_i^{k_i} thì số các ước dương của n bằng \prod (k_i+1).

Ví dụ 6. Cho X=\{1,2,\ldots,100\} và

S=\{(a,b,c)\mid a,b,c\in X,a<b,a<c\}. Tính |S|.

Lời giải. Với mỗi k=1,2,\cdots,99 ta đặt S_k=\{(k,b,c)|b,c\in X, b>k,c>k\}. Khi đó S là hợp rời rạc của các S_k, mà theo quy tắc nhân ta có |S_k|=(100-k)^2 nên suy ra |S|=\sum S_k=328350\Box.

Để ý đến lời giải ví dụ thứ hai và thứ sáu, ta thấy chúng có một điểm chung là chia bài toán đã cho thành các bài toán con đơn giản hơn và giải chúng. Đây là cách cơ bản nhất để giải các bài toán đếm, có thể sẽ có cách khác ngắn gọn hơn, nhưng việc chia một bài toán thành các bài toán con mà chúng ta đã biết cách giải sẽ giúp ta ít gặp phải các sai lầm hơn.

Ví dụ 7. Có bao nhiêu số tự nhiên có ba chữ số được lấy từ tập \{1,2,3,4,5,6\} nếu

(a) Các chữ số không cần phải khác nhau?

(b) Các chữ số phải khác nhau?

(c) Các chữ số phải khác nhau và chứa số 3?

(d) Các chữ số không cần phải khác nhau và chứa số 3?

Lời giải.

(a) 6^3.

(b) 6\times 5\times 4.

(c) Đầu tiên ta chọn vị trí cho số 3, sau đó chọn hai số còn lại lần lượt. Đáp số là 3\times 5\times 4.

(d) Nếu tiếp tục làm như trên ta sẽ được kết quả là 3\times 6\times 6, đây là một kết quả không chính xác! Vì làm như vậy những số như 323 sẽ được đếm hai lần. Vấn đề ở chỗ ta đã dùng sai quy tắc nhân, mỗi hai tổ hợp khác nhau cách thực hiện các công việc E_i phải cho hai kết quả khác nhau thì ta mới áp dụng được quy tắc nhân. Bài này ta lại phải chia thành các bài toán con và giải chúng lần lượt.

Ta chia trường hợp theo vị trí của số 3 nằm bên trái nhất. Nếu số 3 này nằm ở vị trí hàng trăm thì số có ba chữ số phải có dạng \overline{3ab}, nếu nó nằm ở vị trí hàng chục thì số có ba chữ số phải có dạng \overline{a3b} với a\not=3, và cuối cùng, nếu số 3 này nằm ở vị trí hàng đơn vị thì số ba chữ số phải có dạng \overline{ab3} với a,b\not=3. Giải các bài toán con ta được đáp số của bài toán là 6\times 6+5\times 6+5\times 5. \Box

Continue reading “Basic counting principles” →

Existence of Non-Trivial Solutions in Homogeneous Linear Systems


Định lý. Cho hai số nguyên dương N>M và một bảng các số thực (phức, hữu tỷ) (a_{i,j}) có cỡ M\times N. Khi đó, hệ phương trình

\displaystyle \sum_{j=1}^Na_{i,j}x_j=0,\quad i=1,2,\ldots,M

luôn có nghiệm thực (tương ứng phức, hữu tỷ) không tầm thường.

Chứng minh. Ta chứng minh đồng thời cho các hệ có hệ số trong mỗi trường \mathbb K\in\{\mathbb Q,\mathbb R,\mathbb C\} bằng quy nạp theo số phương trình M.

Với M=1, ta có N\ge2. Nếu mọi hệ số a_{1,j} đều bằng 0 thì có thể lấy (x_1,\ldots,x_N)=(1,0,\ldots,0). Nếu không, chọn k sao cho a_{1,k}\ne0 và chọn \ell\ne k. Đặt

\displaystyle x_\ell=1,\qquad x_k=-\frac{a_{1,\ell}}{a_{1,k}},\qquad x_j=0\quad(j\notin\{k,\ell\}).

Đây là một nghiệm không tầm thường.

Giả sử kết luận đúng với mọi hệ gồm M-1 phương trình và có số ẩn lớn hơn M-1. Xét hệ gồm M phương trình với N>M. Nếu phương trình thứ M có mọi hệ số bằng 0, bỏ phương trình ấy rồi áp dụng giả thiết quy nạp.

Trong trường hợp còn lại, bằng cách đổi thứ tự các ẩn, ta có thể giả sử a_{M,N}\ne0. Từ phương trình thứ M, suy ra

\displaystyle x_N=-\sum_{j=1}^{N-1}\frac{a_{M,j}}{a_{M,N}}x_j.

Thay vào M-1 phương trình đầu, ta được hệ thuần nhất

\displaystyle \sum_{j=1}^{N-1} \left(a_{i,j}-\frac{a_{i,N}a_{M,j}}{a_{M,N}}\right)x_j=0, \qquad i=1,\ldots,M-1.

Hệ này có N-1>M-1 ẩn và các hệ số vẫn thuộc \mathbb K. Theo giả thiết quy nạp, nó có nghiệm (x_1,\ldots,x_{N-1}) không tầm thường. Xác định x_N bằng công thức trên, ta thu được một nghiệm của hệ ban đầu. Nghiệm này không tầm thường vì ít nhất một trong các số x_1,\ldots,x_{N-1} khác 0.

Vậy kết luận đúng với mọi M<n. \Box

Đây là một kết quả hữu ích khác về hệ phương trình tuyến tính nhiều ẩn https://nttuan.org/2007/10/21/siegel/

A Proof of Beatty’s Theorem


Cho số thực \alpha. Dãy Beatty của \alpha là dãy (a_n)_{n\geq 1} xác định bởi a_n=[n\alpha],\quad \forall n\geq 1.

Định lý (Beatty). Cho hai số thực dương \alpha và \beta. Khi đó các dãy Beatty của \alpha và \beta làm thành một phân hoạch của tập các số nguyên dương khi và chỉ khi \alpha và \beta là các số vô tỷ và

\displaystyle \frac{1}{\alpha}+\frac{1}{\beta}=1.

Chứng minh. Đặt S_{\alpha}=\{[n\alpha]|n=1,2,\ldots\} và \displaystyle S_{\beta}=\{[n\beta]|n=1,2,\ldots\}.

Giả sử S_{\alpha} và S_{\beta} làm thành một phân hoạch của tập các số nguyên dương. Ta thấy ngay \alpha và \beta lớn hơn 1, suy ra hai dãy Beatty của hai số này là các dãy tăng. Ta sẽ sử dụng phương pháp mật độ trong lý thuyết số giải tích.

Với mỗi số nguyên dương k, cố định nó. Xét một số nguyên dương n, ta có

\displaystyle [n\alpha]\leq k\Leftrightarrow n\alpha < k+1\Leftrightarrow n < \dfrac{k+1}{\alpha}.

Suy ra |S_{\alpha}\cap \{1, 2, \ldots, k\}|=\left[\dfrac{k+1}{\alpha}\right] hoặc \left[\dfrac{k+1}{\alpha}\right]-1 tùy theo \dfrac{k+1}{\alpha} không nằm trong hay nằm trong \mathbb{Z}. Chứng minh tương tự ta có \displaystyle |S_{\beta}\cap \{1, 2, \ldots, k\}|=\left[\dfrac{k+1}{\beta}\right] hoặc \left[\dfrac{k+1}{\beta}\right]-1 tùy theo \dfrac{k+1}{\beta} không nằm trong hay nằm trong \mathbb{Z}.

Mà |S_{\alpha}\cap \{1, 2, \ldots, k\}|+|S_{\beta}\cap \{1, 2, \ldots, k\}|=k, suy ra

\displaystyle -2+\left[\dfrac{k+1}{\alpha}\right]+\left[\dfrac{k+1}{\beta}\right]\leq k\leq \left[\dfrac{k+1}{\alpha}\right]+\left[\dfrac{k+1}{\beta}\right].

Kết hợp với định nghĩa phần nguyên ta được

\displaystyle -4+\dfrac{k+1}{\alpha}+\dfrac{k+1}{\beta} < k\leq \dfrac{k+1}{\alpha}+\dfrac{k+1}{\beta}.

Chia các vế cho k và cho k\to+\infty ta có \dfrac{1}{\alpha}+\dfrac{1}{\beta}=1. Nếu \alpha là số hữu tỷ thì từ đẳng thức này ta có \beta cũng là số hữu tỷ. Viết \displaystyle \alpha=\dfrac{p}{q},\quad \beta=\dfrac{r}{s}, với p, q, r, và s là các số nguyên dương. Ta thấy S_{\alpha}\cap S_{\beta}\not=\emptyset, chẳng hạn pr thuộc cả hai tập này, suy ra vô lý. Bởi vậy \alpha là số vô tỷ, và \beta cũng thế.

Bây giờ giả sử ngược lại, \alpha và \beta là các số vô tỷ và \dfrac{1}{\alpha}+\dfrac{1}{\beta}=1. Ta thấy ngay \alpha và \beta lớn hơn 1, suy ra hai dãy Beatty của hai số này là các dãy tăng. Nếu S_{\alpha}\cap S_{\beta}\not=\emptyset thì tồn tại các số nguyên dương k,m và n sao cho k=[m\alpha]=[n\beta]. Suy ra

\displaystyle k\leq m\alpha < k+1,\quad k\leq n\beta < k+1.

Vì \alpha và \beta là các số vô tỷ nên

\displaystyle k < m\alpha < k+1,\quad k < n\beta < k+1,

suy ra

\displaystyle \frac{k}{\alpha} < m < \frac{k+1}{\alpha},\quad \frac{k}{\beta} < n < \frac{k+1}{\beta},

cộng theo vế ta có k < m+n < k+1, vô lý. Như vậy S_{\alpha}\cap S_{\beta}=\emptyset.

Nếu tồn tại số nguyên dương l sao cho l\not\in S_{\alpha}\cup S_{\beta} thì tồn tại các số nguyên không âm p và q sao cho

\displaystyle [p\alpha] < l < [(p+1)\alpha], \quad [q\beta] < l < [(q+1)\beta].

Vì l là số nguyên nên từ các bất đẳng thức trên ta suy ra p\alpha < l, đồng thời [(p+1)\alpha] \geq l+1 kéo theo (p+1)\alpha \geq l+1. Lập luận tương tự cho \beta, ta được

\displaystyle p\alpha < l < l+1\leq (p+1)\alpha,\quad q\beta < l < l+1\leq (q+1)\beta.

Vì \alpha,\beta là các số vô tỷ nên

\displaystyle p\alpha < l < l+1 < (p+1)\alpha,\quad q\beta < l < l+1 < (q+1)\beta.

Chia các vế cho \alpha,\beta và cộng lại ta có

\displaystyle p+q < l < l+1 < p+q+2,

điều này không thể xảy ra (do khoảng mở (p+q, p+q+2) có độ dài bằng 2 nên chỉ chứa đúng một số nguyên là p+q+1). \blacksquare

The sum of the reciprocals of the primes


Với mỗi số nguyên dương n, ký hiệu p_n là số nguyên tố thứ n trong dãy tăng tất cả các số nguyên tố. Như vậy p_1=2, p_2=3, p_3=5,…

Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu một chứng minh của kết quả sau:

Định lý. Chuỗi \displaystyle \frac{1}{p_1}+\frac{1}{p_2}+\frac{1}{p_3}+\ldots là một chuỗi phân kỳ.

Chứng minh. Giả sử ngược lại, khi đó với mỗi số nguyên dương k, chuỗi \displaystyle\sum_{m=k}^{+\infty}\frac{1}{p_m} là một chuỗi hội tụ, gọi S_k là tổng của nó. Vì \lim S_k=0 nên tồn tại số nguyên k sao cho \displaystyle S_{k+1}<\frac{1}{2}. Đặt Q=p_1p_2\ldots p_k và xét các số 1+nQ\, (n=1,2,\ldots). Mỗi số trong dãy này đều không có ước nguyên tố thuộc \{p_1, p_2, \ldots, p_k\}, do đó với mỗi số nguyên dương r, tồn tại số nguyên dương K đủ lớn để

\displaystyle\sum_{n=1}^r\frac{1}{1+nQ}\leq\sum_{t=1}^{K}S_{k+1}^t<1.

Điều này không thể xảy ra do chuỗi \displaystyle \sum_{n=1}^{+\infty}\frac{1}{1+nQ} là một chuỗi phân kỳ. \Box

Tham khảo

[1] https://nttuan.org/2018/12/30/series/

[2] https://en.wikipedia.org/wiki/Divergence_of_the_sum_of_the_reciprocals_of_the_primes