Permutations


Cho n là một số nguyên dương, r là một số nguyên thoả mãn 0\leq r\leq nA là một tập hợp có n phần tử. Một r-hoán vị của A (hay một chỉnh hợp chập r của A) là một cách xếp r phần tử nào đó của A thành một hàng. Một n-hoán vị của A sẽ được gọi là một hoán vị của A.

Ví dụ 1. Cho tập A=\{a,b,c,d\}. Khi đó các 3-hoán vị của A là (có tất cả 24):

abc,acb,bac,bca,cab,cba,

abd,adb,bad,bda,dab,dba,

acd,adc,cad,cda,dac,dca,

bcd,bdc,cbd,cdb,dbc,dcb. \Box

Định lí 1. Cho n là một số nguyên dương, r là một số nguyên thoả mãn 0\leq r\leq nA là một tập hợp có n phần tử. Khi đó số r-hoán vị của A bằng A_n^r=\dfrac{n!}{(n-r)!}. Nói riêng, số hoán vị của A bằng P_n=n!.

Chứng minh. Một r-hoán vị của A sẽ được hình thành sau r bước: Đầu tiên, chọn một phần tử từ A và đặt nó vào vị trí thứ nhất; sau đó ta chọn trong các phần tử còn lại của A một phần và đặt nó vào vị trí thứ hai;…; và cuối cùng ta chọn một phần tử từ n-r+1 phần tử còn lại của A và đặt nó vào vị trí thứ r. Vì có n cách làm bước thứ nhất, n-1 cách làm bước thứ hai;…; và n-r+1 cách làm bước thứ r nên theo quy tắc nhân, ta có A_n^r=n(n-1)\cdots (n-r+1)=\dfrac{n!}{(n-r)!}. \Box

Ví dụ 2. Gọi E là tập tất cả 26 chữ cái tiếng Anh. Tìm số các từ gồm 5 chữ trong E sao cho chữ đầu tiên, chữ cuối cùng là các nguyên âm phân biệt và ba chữ còn lại là các phụ âm phân biệt.

Lời giải.5 nguyên âm trong E đó là a,e,i,o,u21 chữ cái còn lại là các phụ âm. Một từ thỏa mãn yêu cầu của đầu bài sẽ được hình thành sau hai bước: Đầu tiên, chọn một 2-hoán vị của \{a,e,i,o,u\} và đặt nguyên âm thứ nhất vào vị trí 1, nguyên âm thứ hai vào vị trí 5, sau đó chọn một 3-hoán vị của E\setminus \{a,e,i,o,u\} và đặt phụ âm thứ nhất, hai, ba của hoán vị vào vị trí 2,3,4 tương ứng.

Bởi vì có A_5^2 cách để làm bước thứ nhất và A_{21}^3 cách để làm bước thứ hai nên theo quy tắc nhân ta có số các từ thoả mãn là A_5^2\times A_{21}^3=159600. \Box

Continue reading “Permutations”

Basic counting principles


Nguyên lý thứ nhất (Quy tắc cộng). Giả sử có n_1 cách thực hiện việc E_1, n_2 cách thực hiện việc E_2,…,n_k cách thực hiện việc E_k. Nếu k việc này không thể làm đồng thời thì sẽ có n_1+n_2+\cdots+n_k cách thực hiện một trong các việc E_1,E_2,\ldots,E_k.

Ví dụ 1. Người ta có thể đi từ Hải Phòng đến Đà Nẵng bằng một trong ba phương tiện: tàu hoả, tàu thuỷ và máy bay. Nếu có hai cách đi bằng tàu hoả, ba cách đi bằng tàu thuỷ, và 1 cách đi bằng máy bay thì sẽ có 2+3+1=6 cách đi từ Hải Phòng đến Đà Nẵng. \Box

Ví dụ 2. Tìm số các cặp có thứ tự (x;y) các số nguyên thoả mãn x^2+y^2\leq 5.

Lời giải. Mỗi i=0,1,2,3,4,5 ta đặt S_i=\{(x,y)|x,y\in\mathbb{Z},x^2+y^2=i\}, khi đó tập cần tính số phần tử sẽ là hợp rời rạc của các S_i. Ta tính số phần tử của các S_i bằng phương pháp liệt kê và cuối cùng được đáp số của bài toán là 21. \Box

Nguyên lý thứ hai (Quy tắc nhân). Giả sử rằng việc E có thể được làm bằng cách thực hiện liên tiếp các việc E_1,E_2,\ldots,E_k; và có n_1 cách thực hiện việc E_1, n_2 cách thực hiện việc E_2,…,n_k cách thực hiện việc E_k. Khi đó số cách làm việc En_1\times n_2\times\cdots\times n_k.

Ví dụ 3. Đề đi từ thành phố A đến thành phố D người ta phải đi lần lượt qua hai thành phố BC. Nếu có hai cách đi từ A đến $B$, ba cách đi từ B đến C và một cách đi từ C đến D thì sẽ có 2\times 3\times 1=6 cách đi từ A đến D. \Box

Ví dụ 4. Cho kn là các số nguyên dương. Một dãy k-phân độ dài n là một dãy (a_1,a_2,\ldots,a_n) với a_1,a_2,\ldots,a_n\in\{0,1,\ldots,k-1\}. Hỏi có bao nhiêu dãy này?

Lời giải. Đặt A=\{0,1,\ldots,k-1\}. Để hình thành một dãy k-phân, đầu tiên chúng ta cần chọn a_1 từ B, sau đó chọn a_2 từ B, và cứ như thế cho đến cuối cùng cần chọn a_n từ B. Bởi vì có k cách để làm mỗi bước nên theo quy tắc nhân, số các dãy như vậy bằng k^n. \Box

Ví dụ 5. Tìm số các ước dương của 600.

Lời giải. Ta có 600=2^3\times 3^1\times 5^2 nên một số nguyên dương m là một ước dương của 600 khi và chỉ khi nó có dạng m=2^a\times 3^b\times 5^c với a,b,c là các số nguyên thoả mãn 0\leq a\leq 3,0\leq b\leq 1,0\leq c\leq 2. Như vậy số các ước dương của 600 bằng số các bộ ba (a,b,c) thoả mãn a\in\{0,1,2,3\},b\in\{0,1\},c\in\{0,1,2\}, theo quy tắc nhân, số ước dương của 600 bằng 4\times 2\times 3=24. \Box

Tổng quát hơn ta có: Nếu số nguyên dương n có phân tích tiêu chuẩn n=\prod p_i^{k_i} thì số các ước dương của n bằng \prod (k_i+1).

Ví dụ 6. Cho X=\{1,2,\ldots,100\}

S=\{(a,b,c)\mid a,b,c\in X,a<b,a<c\}. Tính |S|.

Lời giải. Với mỗi k=1,2,\cdots,99 ta đặt S_k=\{(k,b,c)|b,c\in X, b>k,c>k\}. Khi đó S là hợp rời rạc của các S_k, mà theo quy tắc nhân ta có |S_k|=(100-k)^2 nên suy ra |S|=\sum S_k=328350\Box.

Để ý đến lời giải ví dụ thứ hai và thứ sáu, ta thấy chúng có một điểm chung là chia bài toán đã cho thành các bài toán con đơn giản hơn và giải chúng. Đây là cách cơ bản nhất để giải các bài toán đếm, có thể sẽ có cách khác ngắn gọn hơn, nhưng việc chia một bài toán thành các bài toán con mà chúng ta đã biết cách giải sẽ giúp ta ít gặp phải các sai lầm hơn.

Ví dụ 7. Có bao nhiêu số tự nhiên có ba chữ số được lấy từ tập \{1,2,3,4,5,6\} nếu

(a) Các chữ số không cần phải khác nhau?

(b) Các chữ số phải khác nhau?

(c) Các chữ số phải khác nhau và chứa số 3?

(d) Các chữ số không cần phải khác nhau và chứa số 3?

Lời giải.

(a) 6^3.

(b) 6\times 5\times 4.

(c) Đầu tiên ta chọn vị trí cho số 3, sau đó chọn hai số còn lại lần lượt. Đáp số là 3\times 5\times 4.

(d) Nếu tiếp tục làm như trên ta sẽ được kết quả là 3\times 6\times 6, đây là một kết quả không chính xác! Vì làm như vậy những số như 323 sẽ được đếm hai lần. Vấn đề ở chỗ ta đã dùng sai quy tắc nhân, mỗi hai tổ hợp khác nhau cách thực hiện các công việc E_i phải cho hai kết quả khác nhau thì ta mới áp dụng được quy tắc nhân. Bài này ta lại phải chia thành các bài toán con và giải chúng lần lượt.

Ta chia trường hợp theo vị trí của số 3 nằm bên trái nhất. Nếu số 3 này nằm ở vị trí hàng trăm thì số có ba chữ số phải có dạng \overline{3ab}, nếu nó nằm ở vị trí hàng chục thì số có ba chữ số phải có dạng \overline{a3b} với a\not=3, và cuối cùng, nếu số 3 này nằm ở vị trí hàng đơn vị thì số ba chữ số phải có dạng \overline{ab3} với a,b\not=3. Giải các bài toán con ta được đáp số của bài toán là 6\times 6+5\times 6+5\times 5. \Box

Continue reading “Basic counting principles”

Combinatorial Nullstellensatz


Trong bài này chúng tôi giới thiệu một chứng minh ngắn của định lý không điểm tổ hợp của Noga Alon, và sử dụng nó chứng minh định lý Cauchy – Davenport (xem [1]). Từ bây giờ, khi nói đến trường thì các bạn hiểu là nói đến \displaystyle \mathbb{C}, \displaystyle \mathbb{R}, \displaystyle \mathbb{Q}, hay \displaystyle \mathbb{Z}/p\mathbb{Z}.

Định lý 1 (N. Alon, 1999). Cho \displaystyle \mathbb{F} là một trường bất kỳ, và cho \displaystyle P\left(x_{1}, \ldots, x_{n}\right) là một đa thức trong \displaystyle \mathbb{F}\left[x_{1}, \ldots, x_{n}\right]. Giả sử bậc của \displaystyle P\displaystyle \sum_{i=1}^{n} k_{i}, trong đó \displaystyle k_{i} là một số nguyên không âm, và hệ số của đơn thức \displaystyle x_{1}^{k_{1}} x_{2}^{k_{2}} \cdots x_{n}^{k_{n}} trong \displaystyle P khác không. Khi đó với mỗi tập con \displaystyle A_{1}, \ldots, A_{n} của \displaystyle \mathbb{F} thỏa mãn \displaystyle \left|A_{i}\right| \geq k_{i}+1 với mỗi \displaystyle i=1,2, \ldots, n, tồn tại \displaystyle a_{1} \in A_{1}, \ldots, a_{n} \in A_{n} để \displaystyle P\left(a_{1}, \ldots, a_{n}\right) \neq 0.

Định lý trên được gọi là định lý không điểm tổ hợp, nó là một tổng quát của kết quả: Với mỗi đa thức khác không \displaystyle f(x) với hệ số thuộc một trường \displaystyle \mathbb F, số nghiệm của \displaystyle f trong \displaystyle \mathbb F không vượt quá \displaystyle \deg f.

Chứng minh (Mateusz Michalek). Khẳng định là đúng một cách hiển nhiên khi \displaystyle P là đa thức hằng, bây giờ ta xét trường hợp còn lại.

Quy nạp theo \displaystyle \deg P. Nếu \displaystyle \deg(P)=1 thì định lý là đúng. Giả sử \displaystyle \deg(P)>1\displaystyle P thỏa mãn các giả thiết của định lý nhưng kết luận là sai. Nghĩa là \displaystyle P(x)=0 với mọi \displaystyle x \in A_{1} \times \ldots \times A_{n}. Không mất tính tổng quát, giả sử \displaystyle k_{1}>0. Xét một \displaystyle a \in A_{1} và viết

\displaystyle P=\left(x_{1}-a\right) Q+R\quad \quad (1)

bằng cách sử dụng thuật toán chia. Xem (1) là một đẳng thức của các đa thức một biến \displaystyle x_{1} với hệ số thuộc \displaystyle \mathbb{F}\left[x_{2}, \ldots, x_{n}\right]. Vì bậc của \displaystyle R theo biến \displaystyle x_{1} là bé hơn \displaystyle \deg\left(x_{1}-a\right), đa thức \displaystyle R không chứa \displaystyle x_{1}. Từ giả thiết về \displaystyle P ta có \displaystyle Q phải có một đơn thức không bị triệt tiêu có dạng \displaystyle x_{1}^{k_{1}-1} x_{2}^{k_{2}} \cdots x_{n}^{k_{n}}

\displaystyle \deg(Q)=\sum_{i=1}^{n} k_{i}-1=\deg(P)-1.   

Lấy mỗi \displaystyle x \in\{a\} \times A_{2} \times \ldots \times A_{n} và thay vào (1). Vì \displaystyle P(x)=0 ta có \displaystyle R(x)=0. Nhưng \displaystyle R không chứa \displaystyle x_{1}, suy ra \displaystyle R cũng bằng không trên \displaystyle \left(A_{1}-\{a\}\right) \times A_{2} \times \ldots \times A_{n}.

Bây giờ thay mỗi \displaystyle x \in\left(A_{1}-\{a\}\right) \times A_{2} \times \ldots \times A_{n} vào (1). Vì \displaystyle x_{1}-a khác không, ta có \displaystyle Q(x)=0. Vậy là \displaystyle Q bằng không trên \displaystyle \left(A_{1}-\{a\}\right) \times A_{2} \times \ldots \times A_{n}, trái với giả thiết quy nạp. \Box

Một áp dụng đầu tiên là chứng minh ngắn của định lý Cauchy – Davenport trong lý thuyết số cộng tính. Định lý được chứng minh đầu tiên bởi Cauchy vào năm 1813 và bởi Davenport vào năm 1935. Cho \displaystyle A\displaystyle B là hai tập con khác rỗng của \displaystyle \mathbb{Z}/{p}\mathbb{Z} với \displaystyle \mid A\mid =a\displaystyle \mid B\mid =b. Hỏi tập

\displaystyle A+B:=\{a+b\mid (a,b)\in A\times B\}

có thể có ít nhất bao nhiêu phần tử?

Định lý 2 (Cauchy – Davenport). Cho số nguyên tố \displaystyle p và cho \displaystyle A\displaystyle B là hai tập con khác rỗng của \displaystyle \mathbb{Z}/{p}\mathbb{Z} với \displaystyle \mid A\mid =a\displaystyle \mid B\mid =b. Khi đó

\displaystyle |A+B|\geq\min \{p,a+b-1\}.

Chứng minh. Nếu \displaystyle a+b>p thì \displaystyle \mid A+B\mid =p. Thật vậy, với mỗi \displaystyle g\in \mathbb{Z}/{p}\mathbb{Z}, hai tập \displaystyle g-A\displaystyle B có giao khác rỗng vì \displaystyle a+b>p. Lấy \displaystyle h\in (g-A)\cap B ta có ngay \displaystyle h=b=g-a\quad (a\in A,b\in B), suy ra \displaystyle g=a+b\in A+B. Từ đây ta có \displaystyle |A+B|=p=\min \{p,a+b-1\}.

Bây giờ ta xét \displaystyle a+b\leq p và giả sử bất đẳng thức là sai. Gọi \displaystyle C là một tập có cỡ \displaystyle a+b-2 trong \displaystyle \mathbb{Z}/{p}\mathbb{Z} chứa \displaystyle A+B. Xét đa thức

\displaystyle f(x, y)=\prod_{c \in C}(x+y-c)

trên \displaystyle \mathbb{Z}/{p}\mathbb{Z}. Đây là một đa thức hai biến có bậc \displaystyle a+b-2. Ta sẽ chứng minh

\displaystyle \left[x^{a-1} y^{b-1}\right] f(x, y)=\left(\begin{array}{c}a+b-2 \\ a-1\end{array}\right) \not =0.

Để hình thành hệ số này khi khai triển \displaystyle f, ta chọn \displaystyle x đúng \displaystyle a-1 lần và \displaystyle y đúng \displaystyle b-1 lần trong \displaystyle a+b-2 thừa số. Như vậy ta có đẳng thức đầu. Hệ số nhị thức khác không là vì \displaystyle a+b-2<p\displaystyle p là số nguyên tố.

\displaystyle |A|=a\displaystyle |B|=b, định lý không điểm tổ hợp cho ta \displaystyle x \in A\displaystyle y \in B\displaystyle f(x, y) \neq 0. Điều này không thể xảy ra vì \displaystyle f đã được dựng để triệt tiêu trên mọi cặp \displaystyle (x, y) như vậy. \Box

Bài đọc thêm

[1] https://nttuan.org/2014/09/29/cauchy-davenport/

IMO Shortlist 2008


Đại số

Bài 1. Tìm tất cả các hàm số f:(0,\infty)\mapsto(0,\infty) (tức là f là một hàm từ tập các số thực dương) thỏa mãn

\displaystyle\frac{(f(w))^{2}+(f(x))^{2}}{f(y^{2})+f(z^{2})}=\frac{w^{2}+x^{2}}{y^{2}+z^{2}}

với mọi số thực dương w, x, y, z thỏa mãn wx=yz.

Bài 2. (a) Chứng minh rằng \frac{x^{2}}{(x-1)^{2}}+\frac{y^{2}}{(y-1)^{2}}+\frac{z^{2}}{(z-1)^{2}}\ge1 với mọi số thực x, y, z khác 1 và thỏa mãn xyz=1.
(b) Chứng minh rằng đẳng thức trên xảy ra với vô số bộ ba số hữu tỉ x, y, z khác 1 và thỏa mãn xyz=1.

Bài 3. Cho S\subseteq\mathbb{R} là một tập hợp các số thực. Ta nói rằng một cặp hàm số (f, g) từ S vào S là một “Cặp đôi Tây Ban Nha” (Spanish Couple) trên S, nếu chúng thỏa mãn các điều kiện sau:
(i) Cả hai hàm số đều tăng ngặt, tức là f(x)<f(y)g(x)<g(y) với mọi x, y\in Sx<y;
(ii) Bất đẳng thức f(g(g(x)))<g(f(x)) đúng với mọi x\in S.
Hãy xác định xem có tồn tại một Cặp đôi Tây Ban Nha trên tập S=\mathbb{N} các số nguyên dương hay không; và trên tập S={a-\frac{1}{b}:a,b\in\mathbb{N}}.

Bài 4. Với một số nguyên m, gọi t(m) là số duy nhất thuộc {1,2,3} sao cho m+t(m) là bội của 3. Một hàm số f:\mathbb{Z}\rightarrow\mathbb{Z} thỏa mãn f(-1)=0, f(0)=1, f(1)=-1f(2^{n}+m)=f(2^{n}-t(m))-f(m) với mọi số nguyên m, n\ge0 sao cho 2^{n}>m. Chứng minh rằng f(3p)\ge0 đúng với mọi số nguyên p\ge0.

Bài 5. Cho a, b, c, d là các số thực dương thỏa mãn abcd=1a+b+c+d>\frac{a}{b}+\frac{b}{c}+\frac{c}{d}+\frac{d}{a}. Chứng minh rằng a+b+c+d<\frac{b}{a}+\frac{c}{b}+\frac{d}{c}+\frac{a}{d}.

Bài 6. Cho hàm số f:\mathbb{R}\rightarrow\mathbb{N} thỏa mãn f(x+\frac{1}{f(y)})=f(y+\frac{1}{f(x)}) với mọi x,y\in\mathbb{R}. Chứng minh rằng tồn tại một số nguyên dương không phải là giá trị của f.

Bài 7. Chứng minh rằng với bốn số thực dương a, b, c, d bất kỳ, bất đẳng thức

\displaystyle\frac{(a-b)(a-c)}{a+b+c}+\frac{(b-c)(b-d)}{b+c+d}+\frac{(c-d)(c-a)}{c+d+a}+\frac{(d-a)(d-b)}{d+a+b}\ge0

luôn đúng. Xác định tất cả các trường hợp xảy ra dấu đẳng thức.


Tổ hợp

Bài 1. Trong mặt phẳng, ta xét các hình chữ nhật có các cạnh song song với các trục tọa độ và có độ dài dương. Mỗi hình chữ nhật như vậy được gọi là một hộp. Hai hộp giao nhau nếu chúng có một điểm chung ở phần trong hoặc trên biên. Tìm số n lớn nhất sao cho tồn tại n hộp B_{1},…, B_{n} thỏa mãn B_{i}B_{j} giao nhau khi và chỉ khi i\not\equiv j\pm1 \pmod n.

Bài 2. Cho n\in\mathbb{N}A_{n} là tập hợp tất cả các hoán vị (a_{1},...,a_{n}) của tập {1,2,...,n} sao cho k\mid 2(a_{1}+\cdot\cdot\cdot+a_{k}) với mọi 1\le k\le n. Tìm số phần tử của tập A_{n}.

Bài 3. Trong mặt phẳng tọa độ, xét tập S gồm tất cả các điểm có tọa độ nguyên. Với một số nguyên dương k, hai điểm phân biệt A, B\in S được gọi là k-bạn bè nếu tồn tại một điểm C\in S sao cho diện tích tam giác ABC bằng k. Một tập T\subset S được gọi là k-clique nếu cứ hai điểm bất kỳ trong T đều là k-bạn bè. Tìm số nguyên dương nhỏ nhất sao cho tồn tại một k-clique có nhiều hơn 200 phần tử.

Bài 4. Cho nk là các số nguyên dương với k\ge nk-n là một số chẵn. Có 2n bóng đèn được đánh số từ 1 đến 2n, mỗi bóng có thể ở trạng thái bật hoặc tắt. Ban đầu tất cả các bóng đèn đều tắt. Ta xét các dãy bước thực hiện: tại mỗi bước, một trong các bóng đèn được chuyển trạng thái (từ bật sang tắt hoặc từ tắt sang bật). Gọi N là số lượng các dãy như vậy gồm k bước và dẫn đến trạng thái mà các bóng đèn từ 1 đến n đều bật, còn các bóng đèn từ n+1 đến 2n đều tắt. Gọi M là số lượng các dãy gồm k bước dẫn đến trạng thái mà các bóng đèn từ 1 đến n đều bật, các bóng đèn từ n+1 đến 2n đều tắt, nhưng không có bóng đèn nào từ n+1 đến 2n từng được bật lên. Xác định tỉ số \frac{N}{M}.

Bài 5. Cho S={x_{1},x_{2},...,x_{k+l}} là một tập hợp gồm k+l số thực nằm trong đoạn [0, 1]; kl là các số nguyên dương. Một tập con A\subset S gồm k phần tử được gọi là “đẹp” nếu

\displaystyle \left|\frac{1}{k}\sum_{x_{i}\in A}x_{i}-\frac{1}{l}\sum_{x_{j}\in S\backslash A}x_{j}\right|\le\frac{k+l}{2kl}.

Chứng minh rằng số lượng các tập con đẹp ít nhất là \frac{2}{k+l}\binom{k+l}{k}.

Bài 6. Với n\ge2, cho S_{1},S_{2},...,S_{2^{n}}2^{n} tập con của A={1,2,3,...,2^{n+1}} thỏa mãn tính chất sau. Không tồn tại các chỉ số ab với a<b và các phần tử x,y,z\in A với x<y<z sao cho y,z\in S_{a}x,z\in S_{b}. Chứng minh rằng ít nhất một trong các tập S_{1},S_{2},...,S_{2^{n}} chứa không quá 4n phần tử.

Continue reading “IMO Shortlist 2008”