Asian Pacific Mathematics Olympiad 2009


Bài 1. Xét phép toán sau trên các số thực dương được viết trên bảng: Chọn một số r được viết trên bảng, xóa số đó, và sau đó viết một cặp số thực dương ab thỏa mãn điều kiện 2r^2=ab lên bảng. Giả sử ban đầu bạn chỉ có một số thực dương trên bảng, và thực hiện phép toán này k^2-1 lần để cuối cùng thu được k^2 số thực dương, không nhất thiết phân biệt. Chứng minh rằng tồn tại một số trên bảng không vượt quá kr.

Bài 2. Cho a_1, a_2, a_3, a_4, a_5 là các số thực thỏa mãn \frac{a_1}{k^2+1} + \frac{a_2}{k^2+2} + \frac{a_3}{k^2+3} + \frac{a_4}{k^2+4} + \frac{a_5}{k^2+5} = \frac{1}{k^2} với k=1,2,3,4,5. Tìm giá trị của \frac{a_1}{37} + \frac{a_2}{38} + \frac{a_3}{39} + \frac{a_4}{40} + \frac{a_5}{41} (Biểu diễn giá trị dưới dạng một phân số duy nhất.)

Bài 3. Cho ba đường tròn \Gamma_1, \Gamma_2, \Gamma_3 không giao nhau và rời nhau từng đôi một trên mặt phẳng. Với mỗi điểm P trên mặt phẳng, nằm ngoài ba đường tròn, dựng sáu điểm A_1, B_1, A_2, B_2, A_3, B_3 như sau: Với mỗi i=1,2,3, A_i, B_i là các điểm phân biệt trên đường tròn \Gamma_i sao cho các đường thẳng PA_iPB_i đều là tiếp tuyến của \Gamma_i. Gọi điểm P là điểm ngoại lệ nếu, từ cách dựng trên, ba đường thẳng A_1B_1, A_2B_2, A_3B_3 đồng quy. Chứng minh rằng mọi điểm ngoại lệ trên mặt phẳng, nếu tồn tại, đều nằm trên cùng một đường tròn.

Bài 4. Chứng minh rằng với mọi số nguyên dương k, tồn tại một cấp số cộng \frac{a_1}{b_1}, \frac{a_2}{b_2}, \dots, \frac{a_k}{b_k} gồm các số hữu tỉ, trong đó a_i, b_i là các số nguyên dương nguyên tố cùng nhau với mỗi i=1,2,\dots,k, sao cho các số nguyên dương a_1, b_1, a_2, b_2, \dots, a_k, b_k đều phân biệt.

Bài 5. Larry và Rob là hai robot đi cùng một chiếc xe từ Argovia đến Zillis. Cả hai robot đều có quyền điều khiển vô lăng và rẽ theo thuật toán sau: Larry rẽ trái 90^\circ sau mỗi l kilômét lái xe tính từ điểm xuất phát; Rob rẽ phải 90^\circ sau mỗi r kilômét lái xe tính từ điểm xuất phát, trong đó lr là các số nguyên dương nguyên tố cùng nhau. Trong trường hợp cả hai lượt rẽ xảy ra đồng thời, xe sẽ tiếp tục đi thẳng mà không chuyển hướng. Giả sử mặt đất bằng phẳng và xe có thể di chuyển theo bất kỳ hướng nào. Giả sử xe xuất phát từ Argovia và hướng về phía Zillis. Với những lựa chọn nào của cặp (l, r) thì xe được đảm bảo sẽ đến Zillis, bất kể khoảng cách từ Argovia là bao xa?

Japan Mathematical Olympiad 2008 (Finals)


Bài 1. Cho P(x) là một đa thức với hệ số nguyên sao cho P(n^{2})=0 với một số nguyên khác không n nào đó. Chứng minh rằng P(a^{2})\ne1 với mọi số hữu tỉ a\ne0.

Bài 2. Có 2008 thẻ đỏ và 2008 thẻ trắng. 2008 người chơi ngồi thành một vòng tròn hướng mặt vào trong, với tình trạng ban đầu là mỗi người được chia 2 thẻ. Mỗi người thực hiện quy trình sau trong cùng một lượt:
(*) Nếu bạn có nhiều hơn một thẻ đỏ, bạn sẽ chuyển một thẻ đỏ cho người ngồi liền kề bên trái.

Nếu bạn không có thẻ đỏ nào, bạn sẽ chuyển một thẻ trắng cho người ngồi liền kề bên trái.
Tìm giá trị lớn nhất của số lượt cần thiết để đạt được trạng thái mà tất cả mọi người đều có một thẻ đỏ và một thẻ trắng lần đầu tiên.

Bài 3. Cho tam giác nhọn ABC có tâm đường tròn ngoại tiếp O. Đường tròn đi qua hai điểm A, O cắt các đường thẳng ABAC lần lượt tại P, Q (khác A). Nếu độ dài các đoạn thẳng PQBC bằng nhau, hãy tìm góc \le90^{\circ} tạo bởi hai đường thẳng PQBC.

Bài 4. Tìm tất cả các hàm số f:\mathbb{R}\rightarrow\mathbb{R} thỏa mãn f(x+y)f(f(x)-y)=xf(x)-yf(y) với mọi x,y\in\mathbb{R}.

Bài 5. Có tồn tại hay không một số nguyên dương n sao cho với mọi số hữu tỉ r, tồn tại một số nguyên b và các số nguyên khác không a_{i} (i=1,2,\dots, n) thỏa mãn r=b+\sum_{i=1}^{n}\frac{1}{a_{i}}?

The sum of the reciprocals of the primes


Với mỗi số nguyên dương n, ký hiệu p_n là số nguyên tố thứ n trong dãy tăng tất cả các số nguyên tố. Như vậy p_1=2, p_2=3, p_3=5,…

Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu một chứng minh của kết quả sau:

Định lý. Chuỗi \displaystyle \frac{1}{p_1}+\frac{1}{p_2}+\frac{1}{p_3}+\ldots là một chuỗi phân kỳ.

Chứng minh. Giả sử ngược lại, khi đó với mỗi số nguyên dương k, chuỗi \displaystyle\sum_{m=k}^{+\infty}\frac{1}{p_m} là một chuỗi hội tụ, gọi S_k là tổng của nó. Vì \lim S_k=0 nên tồn tại số nguyên k sao cho \displaystyle S_{k+1}<\frac{1}{2}. Đặt Q=p_1p_2\ldots p_k và xét các số 1+nQ\, (n=1,2,\ldots). Mỗi số trong dãy này đều không có ước nguyên tố thuộc \{p_1, p_2, \ldots, p_k\}, do đó với mỗi số nguyên dương r, tồn tại số nguyên dương K đủ lớn để

\displaystyle\sum_{n=1}^r\frac{1}{1+nQ}\leq\sum_{t=1}^{K}S_{k+1}^t<1.

Điều này không thể xảy ra do chuỗi \displaystyle \sum_{n=1}^{+\infty}\frac{1}{1+nQ} là một chuỗi phân kỳ. \Box

Tham khảo

[1] https://nttuan.org/2018/12/30/series/

[2] https://en.wikipedia.org/wiki/Divergence_of_the_sum_of_the_reciprocals_of_the_primes

Z – K[x]


Các bạn học sinh chắc rất quen thuộc với cuốn từ điển ANH – VIỆT đúng không? Hôm nay tôi sẽ giới thiệu vài trang trong cuốn từ điển SỐ NGUYÊN – ĐA THỨC. Để theo bài cho dễ dàng các bạn nên đọc lướt qua các bài sau:

[1] https://nttuan.org/2023/06/30/poly01/

[2] https://nttuan.org/2023/07/14/divisibility/

[3] https://nttuan.org/2023/08/04/prime/


Mục đích của bài này là giới thiệu một số kết quả về đa thức tương tự với các kết quả trong số học sơ cấp (xem [2] và [3]), chẳng hạn như thuật toán chia, thuật toán Euclid, và định lí cơ bản của số học. Bởi vì chúng thực sự rất tương tự nên một số chứng minh sẽ bị bỏ qua, hoặc viết vắn tắt. Các em học sinh nên viết lại cẩn thận tất cả các chứng minh để hiểu thêm về đa thức.

Trong bài K\mathbb{C},\mathbb{R},\mathbb{Q}, hay \mathbb{F}_p.

Định lí 1 (Thuật toán chia). Cho fg là các phần tử của K[x] với g\neq 0. Khi đó tồn tại duy nhất cặp phần tử (q,r) của K[x] thỏa mãn f=q g+r,\deg (r)<\deg(g) hoặc r=0.

Chứng minh. Khẳng định là đúng một cách hiển nhiên nếu f=0 hoặc bậc của f bé hơn bậc của g. Bây giờ ta xét trường hợp còn lại và chứng minh nó bằng quy nạp theo bậc của f.

Nếu bậc của f bằng 0 thì bậc của g bằng 0 và khẳng định là đúng. Giả sử khẳng định đúng với mọi đa thức f có bậc bé hơn m. Xét một đa thức f có bậc m và một đa thức g khác không có bậc n\leq m. Viết f(x)=a_m x^m+\ldots+a_1 x+a_0g(x)=b_n x^n+\ldots+b_0.

Xét đa thức f_1(x)=f(x)-a_m b_n^{-1} x^{m-n} g(x). Ta có f_1 có bậc bé hơn m hoặc f_1=0 nên theo giả thiết quy nạp, ta có thể viết f_1=q_1 g+r, trong đó bậc của r bé hơn n hoặc r=0. Từ đây ta có f(x)=\left(q_1(x)+a_m b_n^{-1} x^{m-n}\right) g(x)+r(x). Bây giờ ta đi chứng minh phần còn lại, thương và dư là duy nhất. Giả sử f=q_1 g+r_1f=q_2 g+r_2. Khi đó \left(q_1-q_2\right) g=r_2-r_1. Nếu q_2-q_1 \neq 0 thì bậc của \left(q_2-q_1)\right) g không bé hơn bậc của g, trong khi bậc của r_2-r_1 bé hơn bậc của g, vô lý. Vậy q_1=q_2, và đương nhiên r_1=r_2. \Box

Định nghĩa 1. Cho hai đa thức không đồng thời bằng không fg với hệ số trong K. Một đa thức monic d với hệ số trong K được gọi là ước chung lớn nhất của fg nếu

(1) d là một ước của fg, và

(2) mỗi ước của fg cũng là một ước của d.

Ước chung lớn nhất của fg được ký hiệu bởi (f, g). Nếu (f, g)=1 thì ta nói fg nguyên tố cùng nhau.

Ước chung lớn nhất nếu có sẽ là duy nhất. Thật vậy, giả sử dd_1 cùng là ước chung lớn nhất của fg. Khi đó d \mid d_1d_1 \mid d, suy ra d=a d_1d_1=b d, do đó d=a b d. Từ đây ta có ab=1, suy ra ab đều có bậc không. Do đó d_1 bằng d nhân với một đa thức hằng, nhưng chúng cùng monic nên d=d_1. Định lí sau chứng tỏ ước chung lớn nhất tồn tại.

Định lí 2. Với các đa thức không đồng thời bằng không f, g \in K[x], ước chung lớn nhất tồn tại và có thể biểu diễn dưới dạng (f, g)=a f+b g, với a,b \in K[x].

Chứng minh. Xét tập hợp I=\{a f+b g \mid a, b \in K[x]\}. Tập hợp I chứa ít nhất một đa thức khác không nên tồn tại đa thức monic d thuộc I mà có bậc nhỏ nhất. Dễ chứng minh được d=(f, g). \Box

Thuật toán Euclid. Cho f, g \in K[x] là hai đa thức khác không. Dùng thuật toán chia ta có f=q g+r, trong đó \deg(r)<\deg(g) hoặc r=0. Nếu r=0 thì g chia hết f, do đó (f, g)=c g với c\in K. Nếu không, ta có tập các ước chung của fg bằng tập các ước chung của gr, do đó (f,g)=(g,r). Quy trình này làm giảm bậc của đa thức nên nó phải kết thức sau hữu hạn bước, lúc đó ta tìm được (f,g). Tương tự như với số nguyên, dùng thuật toán này ta có thể tìm được các đa thức ab sao cho (f, g)=a f+b g.

Định lí 3. Cho f, g,h \in K[x] với (h, f)=1h\mid fg. Khi đó h\mid g.

Chứng minh. Bạn đọc tự chứng minh xem như bài tập. \Box

Định nghĩa 2. Một đa thức khác hằng với hệ số trong K được gọi là bất khả quy trên K nếu nó không thể phân tích trong K[x] thành tích của hai đa thức có bậc nhỏ hơn. Nó được gọi là khả quy trên K nếu có phân tích như vậy.

Ví dụ. Đa thức x^2-x+1 bất khả quy trên \mathbb{R} nhưng khả quy trên \mathbb{C}.

Tất cả những đa thức bậc 1 là bất khả quy trên K. Mỗi đa thức có bậc lớn hơn 1 có nghiệm trong K sẽ khả quy trên K. Ngược lại không đúng, một đa thức khả quy vẫn có thể không có nghiệm trong K. Tuy nhiên, với các đa thức bậc 2 hay 3 ta có kết quả sau:

Định lí 4. Một đa thức có bậc 2 hay 3 bất khả quy trên K khi và chỉ khi nó không có nghiệm trong K.

Tương tự như với số nguyên ta có các định lí sau. Bạn đọc tự chứng minh chúng xem như bài tập.

Định lí 5. Đa thức khác hằng p \in K[x] bất khả quy trên K khi và chỉ khi với mỗi f,g \in K[x], p\mid fg kéo theo p \mid f hoặc p \mid g.

Định lí 6. Mỗi đa thức khác hằng với hệ số trong K có thể viết như là một phần tử của K nhân với tích của các đa thức monic bất khả quy trên K. Nếu không kể đến thứ tự của các nhân tử thì biểu diễn này là duy nhất.

Continue reading “Z – K[x]”

Perfect rulers


Giả sử ta có một cái thước kẻ dài \displaystyle 6, trên đó đã đánh dấu các điểm \displaystyle 0, \displaystyle 1, \displaystyle 2, \displaystyle 3, \displaystyle 4, \displaystyle 5, \displaystyle 6. Sử dụng chiếc thước này ta có thể tạo mọi đoạn có độ dài thuộc \displaystyle [6], nhưng ta không cần đánh dấu trên thước nhiều điểm như thế để đạt được điều này. Ta có thể đánh dấu \displaystyle 0, \displaystyle 1, \displaystyle 4, 6 là đủ (đoạn độ dài 2 được đo giữa hai điểm 46, đoạn độ dài 3 được đo giữa 14, đoạn độ dài 4 được đo giữa 04, đoạn độ dài 5 được đo giữa 16). Vì C_4^2=6 nên hoàn cảnh này là hoàn hảo.

Bài toán. Cho một số nguyên n lớn hơn 4. Chứng minh rằng không tồn tại n số tự nhiên phân biệt a_1, a_2, \ldots, a_n sao cho mọi số nguyên dương không vượt quá C_n^2 đều có dạng a_i-a_j.

Lời giải. Giả sử ngược lại, tồn tại n số tự nhiên phân biệt a_1, a_2, \ldots, a_n sao cho mọi số nguyên dương không vượt quá C_n^2 đều có dạng a_i-a_j.

Xét đa thức \displaystyle A(z) = \sum_i z^{a_i}. Theo tính chất của các số a_1, a_2, \ldots, a_n, ta có

\displaystyle A(z) \cdot A\left(\frac{1}{z}\right)=\sum_{k=-C_n^2}^{C_n^2} z^k+n-1,\quad \forall z\in\mathbb{C}\setminus \{0\}.

Continue reading “Perfect rulers”