Tài liệu cho học sinh lớp 10 Chuyên toán


Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu một số cuốn sách hoặc bài giảng mà học sinh chuẩn bị vào học lớp 10 Chuyên toán nên có.

[1] Tài liệu giáo khoa chuyên toán, Đại số 10

[2] Tài liệu giáo khoa chuyên toán, Hình học 10

[3]  Chen Chuan-Chong và Koh Khee-Meng., Principles and Techniques in Combinatorics

[4] Hojoo Lee., Topics in Inequalities

[5] Dusan Djukic., Polynomials in One Variable

[6] David Burton., Elementary Number Theory

[7]  B.J. Venkatachala., Functional Equations

Divisibility theory in the integers


Trong bài này chúng tôi sẽ trình bày quan hệ chia hết trên tập các số nguyên. Bài viết là tài liệu tự học của các học sinh lớp 10 đang học tại T’s Lab, nhưng các bạn học sinh lớp 8 hoặc 9 xuất sắc có thể hiểu được toàn bài mà không gặp khó khăn nào. Nhiều chứng minh trong bài dùng tính chất sau của tập các số nguyên không âm.

Mỗi tập khác rỗng gồm các số nguyên không âm đều có phần tử nhỏ nhất.

Đầu tiên chúng ta đến với định lí nền tảng của toàn bài.

Định lí 1 (Thuật toán chia). Cho hai số nguyên ab với b>0. Khi đó tồn tại đúng một cặp số nguyên (q,r) thỏa mãn

a=q b+r0 \leq r<b. Hai số qr lần lượt được gọi là thương và dư trong phép chia a cho b.

Chứng minh. Gọi S là tập hợp tất cả các số nguyên không âm có dạng a-xb, với một số nguyên x. Ta thấy S khác rỗng nên nó có phần tử nhỏ nhất, ký hiệu là r.  Từ định nghĩa của S, ta có thể viết r=a-q b, trong đó q là một số nguyên. Nếu r \geq b thì a-(q+1) là một phần tử nhỏ hơn r của S, vô lý, do đó r<b. Bây giờ giả sử (q,r)(q^{\prime},r^{\prime}) là hai cặp có tính chất nói đến trong định lí. Khi đó a=q b+r=q^{\prime} b+r^{\prime}0 \leq r<b, 0 \leq r^{\prime}<b. Từ đây ta có \left|r^{\prime}-r\right|=b\left|q-q^{\prime}\right|, để ý thêm \left|r^{\prime}-r\right|<b, ta thu được 0 \leq\left|q-q^{\prime}\right|<1. Suy ra q=q^{\prime}, và r=r^{\prime}. \Box

Ví dụ 1. Từ định lí 1 ta thấy mọi số nguyên đều có thể viết được dưới dạng 2k hoặc 2k+1 với một số nguyên k. Tương tự, mọi số nguyên đều có thể viết được dưới dạng 3k, 3k+1, hoặc 3k+2 với một số nguyên k. \Box

Định nghĩa 1. Cho hai số nguyên ab với b khác 0. Khi đó a được gọi là chia hết cho b, ký hiệu b \mid a, nếu tồn tại số nguyên c sao cho a=bc. Ta viết b \nmid a khi a không chia hết cho b.

Khi b \mid a, ta cũng nói b là một ước của a, hay a là một bội của b. Ta có ngay lập tức các tính chất sau, chứng minh của chúng là bài tập cho bạn đọc.

Định lí 2. Với các số nguyên a, b, và c, ta có các tính chất sau:

(1) a\mid 0,1\mid a, a \mid a.

(2) a \mid 1 khi và chỉ khi a= \pm 1.

(3) Nếu a \mid bc \mid d, thì a c \mid b d.

(4) Nếu a \mid bb \mid c, thì a \mid c.

(5) a \mid bb \mid a khi và chỉ khi a= \pm b.

(6) Nếu a \mid bb\neq 0, thì \mid a\mid \leq \mid b\mid.

(7) Nếu a \mid ba \mid c, thì a \mid(b x+c y) với các số nguyên bất kỳ xy.

Ta xét một số ví dụ có sử dụng các tính chất này.

Ví dụ 2. Cho a, b, c, và d là các số nguyên thỏa mãn ad-bc>1. Chứng minh rằng ít nhất một bốn số đã cho không chia hết cho ad-bc.

Lời giải. Giả sử ngược lại, khi đó cả bốn số a, b, c, và d đều chia hết cho ad-bc. Suy ra adbc cùng chia hết cho (ad-bc)^2, do đó (ad-bc)^2\mid ad-bc, điều này không thể xảy ra vì ad-bc>1. \Box

Ví dụ 3. Tìm tất cả bộ ba số nguyên (a,b,c) sao cho 1<a<b<c(a-1)(b-1)(c-1) là một ước của abc-1.

Lời giải. Các bộ ba phải tìm là (2,4,8)(3,5,15). Giả sử (a,b,c) là một bộ ba thỏa mãn các yêu cầu của đề bài. Khi đó ba số a, bc có cùng tính chẵn-lẻ, do đó \displaystyle 2 < \frac{abc}{(a-1)(b-1)(c-1)}\leq \frac{a}{a-1} \cdot \frac{a+2}{a+1} \cdot \frac{a+4}{a+3}, suy ra a<4. Đến đây xét a=2a=3 ta có câu trả lời. \Box

Continue reading “Divisibility theory in the integers”

Lagrange interpolating polynomial


Đây là bài thứ bốn về đa thức của tôi, các bạn học sinh nên xem lại ba bài trước để học cho dễ dàng hơn.

[1] https://nttuan.org/2007/10/26/poly01/

[2] https://nttuan.org/2009/01/11/poly02/

[3] https://nttuan.org/2018/08/25/poly03/

Đa thức có thể được sử dụng để xấp xỉ các đường cong phức tạp, hay tính giá trị của các hàm logarit và lượng giác. Đầu tiên, chọn một vài dữ liệu đã biết, sau đó tìm một đa thức có bậc đủ bé có cùng dữ liệu đã chọn, cuối cùng xem đa thức vừa tìm được như là hàm số đang xét. Điều này dẫn đến việc tính toán nhanh hơn đáng kể.

Định lí. Cho số nguyên dương nn+1 số phức đôi một khác nhau x_0, x_1, \ldots, x_{n}. Khi đó với mỗi n+1 số phức y_0, y_1, \ldots, y_n, có đúng một đa thức P(x) với hệ số phức có bậc không lớn hơn n sao cho

P(x_i)=y_i,\quad \forall i=\overline{0,n}.

Chứng minh. Nếu PQ là các đa thức thỏa mãn các điều kiện của định lí thì đa thức P-Q có bậc không lớn hơn n và có ít nhất n+1 nghiệm, suy ra P-Q là đa thức không và P=Q. Mặt khác, đa thức \displaystyle P(x)=\sum_{i=0}^ny_i\prod_{j\not =i}\frac{x-x_j}{x_i-x_j} thỏa mãn P(x_i)=y_i,\quad \forall i=\overline{0,n}, do đó định lí được chứng minh. \Box

Hệ quả (Công thức nội suy Lagrange). Cho số nguyên dương n và đa thức P(x) với hệ số phức có bậc không lớn hơn n. Khi đó với mỗi n+1 số phức đôi một khác nhau x_0, x_1, \ldots, x_{n}, ta có

\displaystyle P(x)=\sum_{i=0}^nP(x_i)\prod_{j\not =i}\frac{x-x_j}{x_i-x_j}.

Trong công thức trên, n+1 số phức x_0, x_1, \ldots, x_{n} được gọi là các nút nội suy. Ta thường dùng công thức nội suy Lagrange trong tình huống: Biết thông tin của P tại các x_i, cần tìm thông tin của P tại y\not\in \{x_i\}.

Ví dụ 1. Cho hai đa thức A(x)=x^{81}+x^{49}+x^{25}+x^9+xB(x)=x^3-x. Tìm dư khi chia A(x) cho B(x).

Lời giải. Giả sử Q(x)R(x) lần lượt là thương và dư trong phép chia A(x) cho B(x). Ta có A(x)=B(x)Q(x)+R(x)\deg R<3.B(0)=B(1)=B(-1)=0 nên R(0)=0, R(1)=5R(-1)=-5, do đó áp dụng công thức nội suy Lagrange cho R với các nút 0;1-1 ta có

\displaystyle R(x)=R(0).\frac{(x-1)(x+1)}{(0-1)(0+1)}+R(1).\frac{(x-0)(x+1)}{(1-0)(1+1)}+R(-1).\frac{(x-0)(x-1)}{(-1-0)(-1-1)}

\displaystyle =\frac{5}{2}x(x+1)-\frac{5}{2}x(x-1)=5x. \Box

Ví dụ 2. Cho số nguyên dương n và đa thức P có bậc n thỏa mãn \displaystyle P(k)=\frac{k}{k+1},\quad \forall k=\overline{0,n}. Tính P(n+1).

Lời giải. Do P có bậc n nên áp dụng công thức nội suy Lagrange cho P với n+1 nút 0, 1, \ldots, n ta có \displaystyle P(x)=\sum_{k=0}^nP(k)\prod_{j\not =k}\frac{x-j}{k-j}

\displaystyle =\sum_{k=0}^n\frac{k}{k+1}\prod_{j\not =k}\frac{x-j}{k-j}=\sum_{k=0}^n\frac{(-1)^{n-k}k}{(k+1)!(n-k)!}\prod_{j\not =k}(x-j),\quad\forall x\in\mathbb{R}. Suy ra

\displaystyle P(n+1)=\sum_{k=0}^n\frac{(-1)^{n-k}k}{(k+1)!(n-k)!}\prod_{j\not =k}(n+1-j)

\displaystyle =\sum_{k=0}^n\frac{(-1)^{n-k}k}{(k+1)!(n-k)!}.\frac{(n+1)!}{n+1-k}

\displaystyle =\frac{1}{n+2}\sum_{k=0}^nk(-1)^{n-k}C^{k+1}_{n+2}=\frac{1}{n+2}\sum_{k=0}^n\left[(k+1)(-1)^{n-k}C_{n+2}^{k+1}+(-1)^{n-k+1}C_{n+2}^{k+1}\right]

\displaystyle =\frac{1}{n+2}\left(\sum_{k=0}^n(-1)^{n-k}(n+2)C_{n+1}^k+\sum_{i=1}^{n+1}(-1)^{n+2-i}C_{n+2}^i\right)=\dfrac{n+1+(-1)^{n+1}}{n+2}. \Box

Ví dụ 3. Cho số nguyên dương n và các số nguyên x_0 > x_1 > \ldots > x_n. Chứng minh rằng một trong các số |F(x_0)|, |F(x_1)|, |F(x_2)|, \ldots, |F(x_n)| lớn hơn hoặc bằng \displaystyle \frac{n!}{2^n}. Trong đó

F(x) = x^n + a_1x^{n-1} + \cdots+ a_n

là một đa thức với hệ số thực.

Lời giải. Giả sử \displaystyle |F(x_i)|<\dfrac{n!}{2^n},\quad \forall i=\overline{0,n}. Áp dụng công thức nội suy Lagrange cho P với n+1 nút x_0, x_1, \cdots, x_n ta có

\displaystyle x^n + a_1x^{n-1} + \cdots+ a_n\equiv \sum_{k=0}^nF(x_k)\prod_{j\not =k}\frac{x-x_j}{x_k-x_j}, để ý đến hệ số của x^n trong hai vế ta có  \displaystyle 1=\left|\sum_{k=0}^n\prod_{j\not =k}\frac{F(x_k)}{x_k-x_j}\right|\leq \sum_{k=0}^n\prod_{j\not =k}\frac{|F(x_k)|}{|x_k-x_j|}< \displaystyle \sum_{k=0}^n\prod_{j\not =k}\frac{\frac{n!}{2^n}}{|x_k-x_j|}\leq \sum_{k=0}^n\prod_{j\not =k}\frac{\frac{n!}{2^n}}{|k-j|}=1, không thể xảy ra điều này. \Box

Ví dụ 4. Chứng minh rằng với mỗi số thực a và với mỗi số nguyên dương n ta có

\displaystyle \sum_{k = 0}^n( - 1)^k\binom{n}{k}(a - k)^n = n!.

Lời giải. Vế trái là đa thức của a nên chỉ cần chứng minh đẳng thức khi a là số nguyên. Sau đây ta chứng minh đẳng thức khi a= 0n\geq 3, hay chứng minh

\displaystyle \sum_{k = 0}^n( - 1)^{n + k}\binom{n}{k}k^n = n!. Theo công thức nội suy Lagrange với các nút 1, 2, \ldots, n ta có \displaystyle x^n - (x - 1)(x - 2)\cdots (x - n) \equiv \sum_{k = 1}^nk^n\cdot\prod_{i\not = k}\dfrac{x - i}{k - i},\quad\forall x\in\mathbb{R}. Nói riêng, khi x = 0 ta có \displaystyle ( - 1)^{n + 1}\cdot n! = \sum_{k = 1}^nk^n\cdot \dfrac{1}{k}\cdot \dfrac{( - 1)^{n - 1}\cdot n!}{(k - 1)!\cdot (n - k)!\cdot ( - 1)^{n - k}}, từ đây thu được điều cần chứng minh. \Box.

Continue reading “Lagrange interpolating polynomial”

A proof of Schonemann’s criterion


Các em học sinh nên xem lại hai bài sau:

[1] https://nttuan.org/2009/01/11/poly02/

[2] https://nttuan.org/2018/08/25/poly03/


Định lý (Schonemann, 1846). Cho số nguyên tố p, số nguyên dương n, và một đa thức f(x) với hệ số nguyên có dạng f(x)=(g(x))^n+ph(x). Trong đó gh là các đa thức với hệ số nguyên thỏa mãn:

(a) hệ số cao nhất của g bằng 1g bất khả quy trong \mathbb{F}_p[x].

(b) \deg (h)<\deg (f)(g,h)=1 trong \mathbb{F}_p[x].

Khi đó f bất khả quy trong \mathbb{Q}[x].

Chứng minh. Ta thấy hệ số cao nhất của f bằng 1\deg (f)=n\deg (g). Giả sử f khả quy trong \mathbb{Q}[x], suy ra f=f_1f_2, với f_1f_2 là các đa thức khác hằng với hệ số nguyên cùng có hệ số cao nhất là 1. Khi đó trong \mathbb{F}_p[x] ta có g^n=f_1f_2, mà hệ số cao nhất của g bằng 1g bất khả quy trong \mathbb{F}_p[x], suy ra trong \mathbb{Z}[x] thì f_1=g^r+pF_1f_2=g^{n-r}+pF_2, ở đây r là số nguyên dương bé hơn n, và F_1, F_2 là hai đa thức với hệ số nguyên. Do đó trong \mathbb{Z}[x] ta có đẳng thức

h=F_1g^{n-r}+F_2g^r+pF_1F_2,

suy ra g\mid h trong \mathbb{F}_p[x], điều này không thể xảy ra do (g,h)=1 trong \mathbb{F}_p[x]. \Box

Tiêu chuẩn này là một tổng quát của tiêu chuẩn Eisenstein.