Tree


Một đồ thị không chứa chu trình được gọi là một rừng. Một rừng liên thông được gọi là một cây.

Ví dụ 1. Cho G là một cây trên n>1 đỉnh. Chứng minh rằng G có ít nhất hai lá, và nếu v là một lá thì G\setminus\{v\} là một cây.

Hướng dẫn. Trong các đường đi của G, quan tâm đến một đường đi dài nhất. Chứng minh hai đầu của nó là lá. Chỉ ra G\setminus\{v\} là một rừng liên thông. \Box

Định lý 1. Với một đồ thị G, các khẳng định sau là tương đương:

(1) G là một cây;

(2) Mỗi hai đỉnh của G được nối với nhau bởi một đường đi duy nhất trong G;

(3) G là đồ thị liên thông và với mỗi cạnh e, đồ thị có được từ G bằng cách bỏ đi cạnh e không phải là đồ thị liên thông;

(4) G không chứa chu trình và với mỗi hai đỉnh không kề nhau xy, đồ thị có được từ G bằng cách thêm vào cạnh xy chứa một chu trình.

Chứng minh. Giả sử G là một cây và x, y là hai đỉnh của G. Vì G là đồ thị liên thông nên có một đường đi nối xy, ký hiệu là \alpha. Nếu có một đường đi khác đường đi này nối xy, ký hiệu là \beta, gọi z là đỉnh chung gần x nhất của hai đường đi. Đường đi từ x đến z dọc theo \alpha hợp với đường đi từ z đến x dọc theo \beta tạo thành một chu trình, vô lý. Vậy ta đã chứng minh (1)\Rightarrow (2).

Xét một cạnh e=xy của G. Nếu đồ thị có được từ G bằng cách bỏ đi cạnh e là đồ thị liên thông, thì trong G có một đường đi nối xy mà không chứa e. Đường đi này cùng với e là hai đường đi nối xy. Vậy ta đã chứng minh (2)\Rightarrow (3), vì nếu có (2) thì đồ thị phải là đồ thị liên thông.

Bây giờ giả sử có (3). Trước tiên ta thấy G không chứa chu trình, vì nếu không ta bỏ đi một cạnh của chu trình thì đồ thị mới vẫn liên thông, vô lý. Xét hai đỉnh không kề nhau xy. Vì G là đồ thị liên thông nên có đường đi nối xy. Thêm cạnh xy vào đường đi này ta có một chu trình trong đồ thị có được từ G bằng cách thêm vào cạnh xy. Vậy ta có (4).

Cuối cùng, ta giả sử có (4). Xét hai đỉnh phân biệt xy. Nếu xy kề nhau thì có đường đi nối xy, là xy chẳng hạn. Nếu xy không kề nhau thì đồ thị có được từ G bằng cách thêm vào cạnh xy chứa một chu trình. Vì G không chứa chu trình nên chu trình này chứa xy, bỏ xy ra khỏi nó ta có đường đi trong G nối xy. Vậy ta có (1). \Box

Hệ quả. Một đồ thị liên thông trên n đỉnh là một cây khi và chỉ khi nó có n-1 cạnh.

Chứng minh. Giả sử G là một cây trên n đỉnh. Vì G là đồ thị liên thông nên theo định lý 1 trong [4], ta có thể đánh số các đỉnh của Gv_1, v_2, \ldots, v_n sao cho G_i:=G[v_1,v_2,\ldots,v_i] là đồ thị liên thông với mọi i. Do G là một cây nên mỗi G_i là một cây. Giả sử G_ii-1 cạnh với mọi chỉ số i<k (k là một số nguyên dương sao cho k\leq n). Vì G_k là liên thông nên với mỗi i<k, có đường đi trong G_k nối v_iv_k. Trong tất cả các đường đi như thế, xét đường đi ngắn nhất và giả sử nó nối v_1v_k. Đường đi này phải có độ dài bằng 1, hay v_kv_1 kề nhau trong G. Vì G không có chu trình nên trong G_{k-1}, chỉ có đúng một đỉnh kề với v_k, suy ra G_kk-2+1=k-1 cạnh. Theo nguyên lý quy nạp toán học, G=G_nn-1 cạnh.

Ngược lại, giả sử G là một đồ thị liên thông trên n đỉnh và có n-1 cạnh. Gọi T là một đồ thị con bao trùm liên thông cực tiểu của G. Do tính cực tiểu, khi bỏ mỗi cạnh ra khỏi T thì đồ thị thu được không liên thông, suy ra theo định lý 1 thì T là một cây. Cây này có số cạnh bằng n-1 theo phần đầu của chứng minh, do đó T=G. \Box

Trong một số vấn đề, việc xét một cây với gốc sẽ rất thuận tiện. Giả sử có một cây T và một đỉnh cố định r, gọi là gốc của cây. Với hai đỉnh xy của T, có đúng một đường đi nối xy, ta ký hiệu nó là xTy. Với a,b\in T, ta viết a\leq_T b (hoặc a\leq b khi không sợ nhầm lẫn) nếu a\in rTb. Ta thấy \leq_T là một quan hệ thứ tự bộ phận trên T, gọi là thứ tự cây. Khi a<b ta nói b nằm trên a, hay a nằm dưới b. Theo quan hệ thứ tự này thì r là phần tử nhỏ nhất của T, mỗi lá là phần tử cực đại. Hai đầu mút của mỗi cạnh của T là so sánh được.

Ví dụ 2. Cho số nguyên n lớn hơn 1 và một cây trên n đỉnh. Các đỉnh của cây được viết các số thực x_1, x_2, \ldots, x_n. Mỗi cạnh của cây được viết tích của hai số được viết trên các đầu mút của cạnh, gọi S là tổng tất cả các số này. Chứng minh rằng

\displaystyle\sqrt{n-1}\left(x_1^2+x_2^2+\dots+x_n^2\right)\geq 2S.

Lời giải. Giả sử tập các đỉnh của cây là V=\{v_1, v_2, \ldots, v_n\} sao cho với mỗi i, số được viết trên v_ix_i. Với hai đỉnh kề nhau v_iv_j, gọi P(i,j) là tập các đỉnh của cây không nối được đến v_i bởi một đường đi sau khi xóa khỏi cây cạnh v_iv_j. Ta có ngay 1\leq \mid P(i,j)\mid \leq n-1 mỗi khi v_iv_j kề nhau.

Nhận xét 1. Nếu v_iv_j kề nhau thì \mid P(i,j)\mid +\mid P(j,i)\mid=n.

Chứng minh. Gọi v là một đỉnh của cây, và xem nó là gốc. Ta có v_iv_j là so sánh được theo thứ tự cây. Nếu v_i<v_j thì v\in P(j,i), nếu v_j<v_i thì v\in P(i,j), nhưng không thể có cả hai. Như vậy V được phân hoạch thành P(i,j)P(j,i), từ đây ta có điều cần chứng minh. \Box

Nhận xét 2. Với mỗi i,

\displaystyle \sum_{v_j\in N(v_i)}\mid P(i,j)\mid =n-1.

Chứng minh. Cố định một chỉ số i. Do mỗi đỉnh đều nối đến v_i bởi một đường đi duy nhất và cây không có chu trình nên các P(i,j) với v_j\in N(v_i) làm thành một phân hoạch của V\setminus\{v_i\}, từ đây ta có điều cần chứng minh. \Box

Bây giờ với mỗi cạnh v_iv_j, theo nhận xét 1 ta có

\displaystyle \mid P(i,j)\mid .\mid P(j,i)\mid=\frac{n^2-(\mid P(i,j)\mid -\mid P(j,i)\mid)^2}{4}\geq n-1,

suy ra

\displaystyle\frac{\mid P(i,j)\mid}{\sqrt{n-1}}x_i^2+\frac{\mid P(j,i)\mid}{\sqrt{n-1}}x_j^2\geq 2\sqrt{\frac{\mid P(i,j)\mid .\mid P(j,i)\mid}{n-1}}|x_ix_j|\geq 2x_ix_j.

Mỗi cạnh cho ta một bất đẳng thức có dạng như trên, cộng theo vế các bất đẳng thức này ta có bất đẳng thức trong đề bài. \Box

Tài liệu tham khảo

[1] https://nttuan.org/2009/08/13/graph01/

[2] https://nttuan.org/2023/09/01/graph02/

[3] https://nttuan.org/2024/06/04/graph03/

[4] https://nttuan.org/2024/07/01/connected-graph/

Conditional probability


Bạn đọc nên xem lại hai bài sau

[1] https://nttuan.org/2024/01/24/naive-definition-of-probability/

[2] https://nttuan.org/2024/06/02/probability-space/

Nhiều phát biểu về cơ hội có dạng: Nếu B xảy ra thì xác suất để A xảy ra là p. Trong bài này ta sẽ quan tâm đến các phát biểu như vậy.

Ví dụ 1. Giả sử một lớp học có n học sinh, trong đó có n_1 bạn giỏi toán và n_2 bạn nữ. Chọn ngẫu nhiên một học sinh trong lớp. Gọi A là biến cố học sinh được chọn giỏi toán, và B là biến cố học sinh được chọn là nữ. Khi đó theo định nghĩa ngây thơ của xác suất, \mathbb{P}(A)=n_1/n\mathbb{P}(B)=n_2/n. Bây giờ ta tập trung vào nhóm các bạn học sinh nữ trong lớp. Xác suất để em được chọn trong nhóm này mà giỏi toán bằng m/n_2, ở đây m là số học sinh nữ trong lớp giỏi toán. Nếu kí hiệu \mathbb{P}(A\mid B) là xác suất này, thì

\displaystyle \mathbb{P}(A\mid B)=\frac{m}{n_2}=\frac{m/n}{n_2/n}=\frac{\mathbb{P}(A\cap B)}{\mathbb{P}(B)}. \Box

Ta có định nghĩa hình thức sau

Định nghĩa 1. Cho một không gian xác suất \displaystyle (\Omega,\mathcal{F},\mathbb{P}) và hai biến cố \displaystyle A, \displaystyle B với \displaystyle \mathbb{P}(B)>0. Xác suất của \displaystyle A biết \displaystyle B đã xảy ra, cũng được gọi là xác suất của \displaystyle A với điều kiện \displaystyle B, kí hiệu \displaystyle \mathbb{P}(A\mid B), được định nghĩa bởi

\displaystyle\mathbb{P}(A\mid B)=\frac{\mathbb{P}(A\cap B)}{\mathbb{P}(B)}.

Chú ý rằng \displaystyle\mathbb{P}(A\mid B) là xác suất của \displaystyle A khi biết \displaystyle B xảy ra, nó không phải là xác suất của biến cố \displaystyle A\mid B, không có biến cố \displaystyle A\mid B. Nếu \displaystyle \mathbb{P}(A)>0 thì \displaystyle \mathbb{P}(A\mid A)=1.

Ví dụ 2. Xét phép thử ngẫu nhiên: Tung lần lượt hai con xúc xắc cân đối. Biết rằng con xúc xắc đầu hiện \displaystyle 3 chấm, xác suất để tổng số chấm lớn hơn \displaystyle 6 là bao nhiêu?

Lời giải. Không gian mẫu của phép thử là \displaystyle \Omega=\{1,2,3,4,5,6\}^2. Như quy ước đối với không gian xác suất rời rạc, \displaystyle \mathcal{F} là họ tất cả các tập con của \displaystyle \Omega. Cuối cùng, \displaystyle \mathbb{P}(A)=\mid A\mid / 36 với mỗi \displaystyle A \subset \Omega.

Bây giờ gọi \displaystyle B là biến cố con đầu ra \displaystyle 3 chấm, và \displaystyle A là biến cố tổng các chấm lớn hơn \displaystyle 6. Khi đó

\displaystyle B=\{(3, b): 1 \leq b \leq 6\}, \quad A=\{(a, b): a+b>6\}, \displaystyle \quad A \cap B=\{(3,4),(3,5),(3,6)\}. Suy ra

\displaystyle \mathbb{P}(A \mid B)=\frac{\mathbb{P}(A \cap B)}{\mathbb{P}(B)}=\frac{|A \cap B|}{|B|}=\frac{3}{6}=\frac{1}{2}. \Box

Ví dụ 3. Rút ngẫu nhiên hai quân bài từ một bộ bài cho trước, mỗi lần rút một quân và không trả lại. Gọi \displaystyle A là sự kiện quân bài thứ nhất mang chất cơ và \displaystyle B là sự kiện quân bài thứ hai có màu đỏ. Tính \displaystyle \mathbb{P}(A\mid B)\displaystyle \mathbb{P}(B\mid A).

Lời giải. Không gian xác suất được xây dựng theo cách tự nhiên. Với không gian xác suất này, \displaystyle \mathbb{P}(A)=1/4, \displaystyle \mathbb{P}(B)=1/2, và \displaystyle\mathbb{P}(A\cap B)=\frac{25}{204}. Từ đây ta thu được

\displaystyle\mathbb{P}(A\mid B)=\frac{\mathbb{P}(A\cap B)}{\mathbb{P}(B)}=\frac{25}{102}\approx 0,25

\displaystyle\mathbb{P}(B\mid A)=\frac{\mathbb{P}(B\cap A)}{\mathbb{P}(A)}=\frac{25}{51}\approx 0,49. \Box

Từ định nghĩa của xác suất có điều kiện ta có

Định lý 1 (Công thức Bayes). Cho một không gian xác suất \displaystyle (\Omega,\mathcal{F},\mathbb{P}) và hai biến cố \displaystyle A, \displaystyle B với \displaystyle \mathbb{P}(A)\mathbb{P}(B)>0. Khi đó

\displaystyle\mathbb{P}(A\mid B)=\frac{\mathbb{P}(B\mid A)\mathbb{P}(A)}{\mathbb{P}(B)}.

Định lý 2 (Công thức xác suất toàn phần). Cho một không gian xác suất \displaystyle (\Omega,\mathcal{F},\mathbb{P}). Giả sử \displaystyle A_1, \displaystyle A_2, \displaystyle \ldots, \displaystyle A_n là một phân hoạch của \displaystyle\Omega sao cho \displaystyle \mathbb{P}(A_i)>0 với mọi \displaystyle i. Khi đó với mỗi biến cố \displaystyle B,

\displaystyle\mathbb{P}(B)=\sum_{i=1}^n\mathbb{P}(B\mid A_i)\mathbb{P}(A_i).

Công thức xác suất toàn phần cho một liên hệ giữa xác suất có điều kiện và xác suất không điều kiện. Để tính một xác suất, ta có thể dùng công thức này để chia bài toán thành các bài toán đơn giản hơn, và nó thường được sử dụng cùng với công thức Bayes.

Ví dụ 4. Có hai chiếc hộp, \displaystyle \alpha\displaystyle \beta, đựng các viên bi xanh và đỏ. Hộp \displaystyle \alpha chứa hai viên bi đỏ và ba viên bi xanh, hộp \displaystyle \beta chứa ba viên bi đỏ và bốn viên bi xanh. Một viên bi được lấy ngẫu nhiên từ hộp \displaystyle \alpha và bỏ vào hộp \displaystyle \beta. Sau đó, lấy ngẫu nhiên một viên bi trong hộp \displaystyle \beta và kiểm tra màu của nó. Xác suất để nó có màu xanh là bao nhiêu?

Lời giải. Không gian xác suất được mô tả theo cách tự nhiên. Gọi \displaystyle A là biến cố viên bi lấy sau mang màu xanh, và \displaystyle B là biến cố viên bi lấy trước mang màu xanh. Tính toán đơn giản ta được \displaystyle \mathbb{P}(B)=3/5>0\displaystyle\mathbb{P}(\overline{B})=2/5>0, do đó theo công thức xác suất toàn phần, ta có

\displaystyle\mathbb{P}(A)=\mathbb{P}(A\mid B)\mathbb{P}(B)+\mathbb{P}(A\mid \overline{B})\mathbb{P}(\overline{B}).

Mà ta lại có \displaystyle \mathbb{P}(A\mid B)=5/8\displaystyle \mathbb{P}(A\mid \overline{B})=1/2, suy ra \displaystyle \mathbb{P}(A)=23/40= 0,575. \Box

Ví dụ 5. Có hai nhà máy sản xuất cốc, nhà máy I và nhà máy II. Biết rằng \displaystyle 20\% số cốc từ nhà máy I và \displaystyle 5\% từ nhà máy II bị lỗi. Mỗi tuần, I sản xuất số lượng cốc gấp đôi II. Xác suất để một chiếc cốc được chọn ngẫu nhiên trong một tuần sản xuất đạt yêu cầu là bao nhiêu? Nếu chiếc cốc được chọn bị lỗi thì khả năng nó được sản xuất bởi I là bao nhiêu?

Lời giải. Gọi \displaystyle A là biến cố mà chiếc cốc được chọn là đạt yêu cầu, và gọi \displaystyle B là biến cố nó được sản xuất tại \displaystyle I. Khi đó

\displaystyle\mathbb{P}(A)=\mathbb{P}(A\mid B)\mathbb{P}(B)+\mathbb{P}(A\mid \overline{B})\mathbb{P}(\overline{B})

=\frac{4}{5}\cdot\frac{2}{3}+\frac{19}{20}\cdot\frac{1}{3}=\frac{51}{60}\approx 0,85.

Nếu chiếc cốc được chọn bị lỗi thì khả năng nó được sản xuất bởi I, theo công thức Bayes, là

\displaystyle \mathbb{P}(B\mid \overline{A})=\frac{\mathbb{P}(\overline{A}\mid B)\mathbb{P}(B)}{\mathbb{P}(\overline{A})}=\frac{\frac{1}{5}\cdot \frac{2}{3}}{1-\frac{51}{60}}=\frac{8}{9}\approx 0,889. \Box

Ví dụ 6. Có một đồng xu công bằng và một đồng xu không công bằng với xác suất hiện mặt sấp khi tung là \displaystyle 3/4. Chọn ngẫu nhiên một trong hai đồng xu và tung nó ba lần. Nó hiện mặt sấp cả ba lần. Tính xác suất để đồng xu được chọn là đồng xu công bằng.

Lời giải. Gọi \displaystyle A là biến cố đồng xu được chọn đều hiện mặt sấp khi tung ba lần, và \displaystyle B là biến cố đồng xu được chọn là đồng xu công bằng. Theo công thức Bayes và công thức xác suất toàn phần, ta có

\displaystyle \mathbb{P}(B \mid A)=\frac{\mathbb{P}(A \mid B) \mathbb{P}(B)}{\mathbb{P}(A)}=\frac{\mathbb{P}(A \mid B) \mathbb{P}(B)}{\mathbb{P}(A \mid B) \mathbb{P}(B)+\mathbb{P}\left(A \mid \overline{B}\right) \mathbb{P}\left(\overline{B}\right)}

=\frac{(1 / 2)^3 \cdot 1 / 2}{(1 / 2)^3 \cdot 1 / 2+(3 / 4)^3 \cdot 1 / 2}\approx 0.23. \Box

Ví dụ 7. Xét một trò chơi trong đó một người chơi phải chọn một trong ba cánh cửa. Một trong ba cánh cửa giấu một giải thưởng có giá trị là một chiếc ô tô mới, trong khi mỗi một trong hai cánh cửa còn lại giấu một chiếc bút chì. Sau khi người chơi lựa chọn, người dẫn chương trình (biết xe ở đâu) sẽ mở một trong hai cánh cửa mà người chơi không chọn và cho biết phía sau cánh cửa đó có một cái bút chì. Vào thời điểm này, người chơi phải lựa chọn giữa hai cánh cửa còn lại. Người chơi nên giữ nguyên lựa chọn hay thay đổi?

Lời giải. Bởi vì còn hai cách cửa, một chứa ô tô và cánh còn lại chứa bút chì, nên nhiều người cho rằng chọn lại hay giữ nguyên thì khả năng là như nhau. Đây là câu trả lời sai.

Gọi \displaystyle A_i là biến cố giải thưởng ô tô nằm sau cánh cửa \displaystyle i. Giả sử người chơi đã chọn cánh cửa \displaystyle 1. Gọi \displaystyle B là sự kiện người dẫn chương trình mở ra cánh cửa số \displaystyle 2 có giải thưởng là cái bút chì. Theo định nghĩa của xác suất có điều kiện và công thức xác suất toàn phần,

\displaystyle \mathbb{P}\left(A_1 \mid B\right)=\frac{\mathbb{P}\left(A_1 \cap B\right)}{\mathbb{P}(B)}=\frac{\mathbb{P}\left(B \mid A_1\right)\mathbb{P}\left(A_1\right)}{\mathbb{P}\left(B \mid A_1\right) \mathbb{P}\left(A_1\right)+\mathbb{P}\left(B \mid A_2\right) \mathbb{P}\left(A_2\right)+\mathbb{P}\left(B \mid A_3\right) \mathbb{P}\left(A_3\right)}.

Bây giờ lập luận đơn giản cho ta \displaystyle\mathbb{P}(A_i)=1/3 với mọi \displaystyle i, \displaystyle \mathbb{P}\left(B \mid A_1\right)=1 / 2, \displaystyle P\left(B \mid A_2\right)=0, và \displaystyle \mathbb{P}\left(B \mid A_3\right)=1. Suy ra \displaystyle \mathbb{P}\left(A_1 \mid B\right)=1/3\approx 0,333. Như vậy người chơi nên thay đổi lựa chọn của mình. \Box

Từ đầu cho đến thời điểm hiện tại ta đã thấy nhiều ví dụ mà \displaystyle \mathbb{P}(A\mid B)\not=\mathbb{P}(B), nghĩa là khi ta bổ sung thông tin \displaystyle B thì khả năng xảy ra \displaystyle A thay đổi. Nếu khi bổ sung \displaystyle B mà khả năng xảy ra \displaystyle A không thay đổi ta nói \displaystyle A\displaystyle B là độc lập.

Định nghĩa 2. Cho một không gian xác suất \displaystyle (\Omega,\mathcal{F},\mathbb{P}). Một họ các biến cố \displaystyle \{A_i\}_{i\in I} được gọi là độc lập nếu với mỗi tập con hữu hạn \displaystyle J của \displaystyle I,

\displaystyle\mathbb{P}\left(\bigcap_{j\in J}A_j\right)=\prod_{j\in J}\mathbb{P}(A_j).  

Từ định nghĩa này ta thấy nếu \displaystyle A\displaystyle B là hai sự kiện độc lập với \displaystyle \mathbb{P}(A)\mathbb{P}(B)>0 thì \displaystyle \mathbb{P}(A\mid B)=\mathbb{P}(A)\displaystyle \mathbb{P}(B\mid A)=\mathbb{P}(B).

IMO Shortlist 2022: Number theory


N1. Một số nguyên dương được gọi là số Na Uy nếu nó có ba ước dương phân biệt có tổng bằng 2022. Xác định số Na Uy nhỏ nhất.

N2. Tìm tất cả các số nguyên dương n>2 sao cho

\displaystyle n! \mid \prod_{ p<q\le n,\quad p,q\in\mathbb{P}} (p+q).

N3. Cho a > 1 là một số nguyên dương và d > 1 là một số nguyên dương nguyên tố cùng nhau với a. Đặt x_1=1 và với k\geq 1, x_{k+1} = x_k + d nếu không chia hết x_k, =x_k/a nếu a chia hết x_k. Tìm, theo ad, số nguyên dương n lớn nhất mà tồn tại chỉ số k sao cho x_k chia hết cho a^n.

N4. Tìm tất cả các bộ ba số nguyên dương (a,b,p) sao cho p là số nguyên tố và a^p=b!+p.

(IMO2022/5)

N5. Đối với mỗi i\in [9]T\in\mathbb{N}^*, ký hiệu d_i(T) là số lần chữ số i xuất hiện khi tất cả các bội của 1829 trong [T] được viết ra theo cơ số 10. Chứng minh rằng có vô số T\in\mathbb{N}^* sao cho có đúng hai giá trị phân biệt trong các số d_1(T), d_2(T), \dots, d_9(T).

N6. Cho Q là một tập hợp không nhất thiết hữu hạn các số nguyên tố. Đối với một số nguyên dương n, xét phân tích ra thừa số nguyên tố của nó: gọi p(n) là tổng của tất cả các số mũ và q(n) là tổng của các số mũ tương ứng với các số nguyên tố trong Q. Số nguyên dương n được gọi là đặc biệt nếu p(n)+p(n+1)q(n)+q(n+1) đều là số nguyên chẵn. Chứng minh rằng tồn tại một hằng số c>0 không phụ thuộc Q sao cho với mọi số nguyên dương N>100, số các số nguyên đặc biệt trong [N] ít nhất là cN.

N7. Gọi k là một số nguyên dương và S là một tập hữu hạn các số nguyên tố lẻ. Chứng minh rằng có nhiều nhất một cách (sai khác phép quay và đối xứng) để đặt các phần tử của S xung quanh một đường tròn sao cho tích của hai số cạnh nhau bất kỳ có dạng x^2+x+k với một số nguyên dương x.

(IMO2022/3)

N8. Chứng minh rằng với mỗi số nguyên dương n, số 5^n-3^n không chia hết cho số 2^n+65.

Các phần khác đã được đăng ở

Đại số: https://nttuan.org/2024/05/06/isl2022-algebra/

Hình học: https://nttuan.org/2023/09/08/isl2022-geometry/

Tổ hợp: https://nttuan.org/2023/09/29/isl2022-combinatorics/

Bản pdf của IMO SL từ 2014 đến 2021: https://nttuan.org/2023/07/02/isl/

Sau khi sửa một vài chỗ, bản pdf của IMO SL 2022 sẽ được đăng trong link trên.

IMO 2024: Problems and results


Ngày thi thứ nhất (16/7/2024)

Bài 1. https://artofproblemsolving.com/community/c6h3358923

Tìm tất cả các số thực \alpha sao cho với mỗi số nguyên dương n, số

[\alpha]+[2\alpha]+\cdots+[n\alpha]

chia hết cho n.

Bài 2. https://artofproblemsolving.com/community/c6h3358926

Tìm tất cả các cặp số nguyên dương (a,b) sao cho tồn tại các số nguyên dương gN thỏa mãn

\gcd (a^n+b,b^n+a)=g

với mọi số nguyên n\geq N.

Bài 3. https://artofproblemsolving.com/community/c6h3358932

Cho dãy vô hạn các số nguyên dương (a_n)_{n\geq 1} và số nguyên dương N. Giả sử với mọi số nguyên n>N, a_n bằng số lần xuất hiện của a_{n-1} trong dãy số a_1, a_2, \ldots, a_{n-1}. Chứng minh rằng một trong hai dãy số (a_{2n-1})_{n\geq 1}(a_{2n})_{n\geq 1} là tuần hoàn kể từ lúc nào đó.

Ngày thi thứ hai (17/7/2024)

Bài 4. https://artofproblemsolving.com/community/c6h3359767

Cho ABC là một tam giác với AB < AC < BC. Gọi tâm đường tròn nội tiếp và đường tròn nội tiếp của tam giác ABC lần lượt là I\omega. Gọi X là điểm trên đường thẳng BC, khác C, sao cho đường thẳng qua X song song với AC tiếp xúc với \omega. Tương tự, gọi Y là điểm trên đường thẳng BC, khác B, sao cho đường thẳng qua Y song song với AB tiếp xúc với \omega. Đường thẳng AI cắt lại đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC tại P. Gọi KL lần lượt là trung điểm của ACAB. Chứng minh rằng \angle KIL + \angle YPX = 180^{\circ}.

Bài 5. https://artofproblemsolving.com/community/c6h3359777

Ốc sên Turbo chơi trò chơi sau trên một bảng ô vuông cỡ 2024\times 2023. Trong 2022 ô vuông con nào đó, có các con quỷ nấp ở đó. Ban đầu, Turbo không biết ô nào có quỷ, nhưng nó biết rằng trên mỗi hàng có đúng một con quỷ, trừ hàng đầu tiên và hàng cuối cùng, và trên mỗi cột có không quá một con quỷ.

Turbo thực hiện một dãy các phép thử để tìm cách đi từ hàng đầu đến hàng cuối của bảng. Tại mỗi lần thử, nó được quyền chọn một ô bất kỳ trên hàng đầu để xuất phát, sau đó liên tục di chuyển giữa các ô, mỗi bước từ một ô sang một ô có chung cạnh với ô mà nó đang đứng (nó được phép đến các ô đã từng đi qua). Nếu nó tới một ô có quỷ thì lần thử này dừng lại và nó được đưa trở lại hàng đầu để thực hiện một lần thử khác. Những con quỷ không di chuyển, và Turbo nhớ mỗi ô mà nó ghé qua có quỷ hay không. Nếu nó tới được một ô bất kỳ trên hàng cuối thì trò chơi kết thúc.

Xác định giá trị nhỏ nhất của n sao cho Turbo luôn có chiến lược đảm bảo tới được hàng cuối cùng sau không quá n lần thử, cho dù các con quỷ có nấp ở đâu.

Bài 6. https://artofproblemsolving.com/community/c6h3359771

Một hàm số f:\mathbb{Q}\to\mathbb{Q} được gọi là đẹp nếu với mỗi số hữu tỷ xy, f(x+f(y))=f(x)+y hoặc f(f(x)+y)=x+f(y). Chứng minh rằng tồn tại số nguyên c sao cho với mọi hàm số đẹp f, có không quá c số hữu tỷ có dạng f(r)+f(-r), với số hữu tỷ r nào đó. Tìm giá trị nhỏ nhất của các số c có tính chất này.


Ban tổ chức quyết định điểm xếp giải như sau:

HCV: \geq 29, HCB: \geq 22, HCĐ: \geq 16.

Đội tuyển Việt Nam được 2 HCB và 3 HCĐ. Đội đứng thứ 33 về tổng điểm.

Top 10 đội có điểm cao nhất. Đội tuyển Trung Quốc đứng thứ hai, sau nhiều năm đứng thứ nhất.

Top 10 thí sinh có điểm cao nhất. Haojia Shi lần thứ hai đạt 42/42 điểm. 🙂

Nguồn ảnh: https://www.imo-official.org/