Subconvex sequences


Trong bài này tôi sẽ giới thiệu một lớp dãy hay gặp trong các đề thi chọn học sinh giỏi các cấp. Chứng minh định lí chính trong bài là của Adrian Sandovichi. Để theo dõi cho dễ, các em học sinh nên đọc lại bài sau:

https://nttuan.org/2023/09/15/limit-of-a-sequence/

Định nghĩa. Cho dãy số thực không âm (x_n)_{n\geq 1} và số nguyên k>0. Dãy số (x_n)_{n\geq 1} được gọi là một dãy lồi dưới cấp k nếu có các số thực \alpha_1, \alpha_2,\ldots, \alpha_k sao cho hai điều kiện sau được thỏa mãn đồng thời:

(1) \alpha_i\in (0;1),\quad \forall i=\overline{1,k}\alpha_1+\alpha_2+\cdots+\alpha_k\leq 1.

(2) x_{n+k}\leq \alpha_1x_{n+k-1}+\alpha_2x_{n+k-2}+\cdots+\alpha_kx_n,\quad \forall n\geq 1.

Mọi dãy lồi dưới cấp 1 đều có giới hạn bằng 0. Trong định nghĩa trên, nếu dãy số (x_n) có giới hạn hữu hạn và \sum\alpha_i<1 thì \lim x_n=0.

Định lí. Cho số nguyên dương k. Khi đó mọi dãy lồi dưới cấp k đều có giới hạn hữu hạn.

Chứng minh. Gọi (x_n) là một dãy lồi dưới cấp k. Khi đó tồn tại các số thực \alpha_1, \alpha_2,\ldots, \alpha_k sao cho hai điều kiện sau được thỏa mãn đồng thời:

(1) \alpha_i\in (0;1),\quad \forall i=\overline{1,k}\alpha_1+\alpha_2+\cdots+\alpha_k\leq 1.

(2) x_{n+k}\leq \alpha_1x_{n+k-1}+\alpha_2x_{n+k-2}+\cdots+\alpha_kx_n,\quad \forall n\geq 1.

Xét dãy số (y_n)_{n\geq 1} xác định bởi \displaystyle y_n=\max_{0\leq i\leq k-1}x_{n+i} với mọi số nguyên n>0. Ta thấy (y_n)_{n\geq 1} là một dãy số không tăng và bị chặn dưới bởi 0 nên nó có giới hạn hữu hạn không âm, đặt L=\lim y_n. Ta sẽ chứng minh (x_n) có giới hạn hữu hạn và L=\lim x_n.

Với mọi số thực dương \epsilon, cố định nó.

Đặt \displaystyle t=\min\left\{1;\frac{\alpha_1^k}{2^k(1-\alpha_1)}\right\}.t>0L là giới hạn của dãy số không tăng (y_n) nên tồn tại số nguyên dương n_{\epsilon} để

x_n\leq y_n<L+t\epsilon\leq L+\epsilon,\quad \forall n\geq n_{\epsilon}.\quad (*)

Bây giờ ta chứng minh x_m>L-\epsilon,\quad \forall m\geq k+n_{\epsilon}.\quad (**)

Giả sử tồn tại số nguyên dương m\geq k+n_{\epsilon} sao cho x_m\leq L-\epsilon.

Mệnh đề. \displaystyle x_{m+p}\leq L-\epsilon\left(\frac{\alpha_1}{2}\right)^p,\quad \forall p=\overline{1,k-1}.

Chứng minh. Ta chứng minh bằng quy nạp theo p. Với p=1, từ (*) và cách chọn t ta có

x_{m+1} \leq \alpha_1x_m+\alpha_2x_{m-1}+\cdots+\alpha_kx_{m-k+1}

\leq\alpha_1x_m+(\alpha_2+\cdots+\alpha_k)(L+t\epsilon)

\leq\alpha_1(L-\epsilon)+(1-\alpha_1)(L+t\epsilon)

\leq L-a_1\epsilon+\left(\frac{\alpha_1}{2}\right)^k\epsilon

\leq L-a_1\epsilon+\left(\frac{\alpha_1}{2}\right)^1\epsilon

=L-\epsilon\left(\frac{\alpha_1}{2}\right).

Suy ra khẳng định đúng với p=1. Giả sử khẳng định đúng đến p<k-1, ta chứng minh nó đúng với p+1. Theo giả thiết quy nạp, (*) và cách chọn t ta có

x_{m+p+1} \leq \alpha_1x_{m+p}+\alpha_2x_{m+p-1}+\cdots+\alpha_kx_{m+p-k+1}

\leq\alpha_1\left(L-\epsilon\left(\frac{\alpha_1}{2}\right)^p\right)+(1-\alpha_1)(L+t\epsilon)

=L-a_1\epsilon \left(\frac{\alpha_1}{2}\right)^p+(1-\alpha_1)t\epsilon

\leq L-a_1\epsilon \left(\frac{\alpha_1}{2}\right)^p+\left(\frac{\alpha_1}{2}\right)^k\epsilon

\leq L-a_1\epsilon \left(\frac{\alpha_1}{2}\right)^p +\left(\frac{\alpha_1}{2}\right)^{p+1}\epsilon

=L-\epsilon\left(\frac{\alpha_1}{2}\right)^{p+1}.

Suy ra khẳng định đúng với p+1. Theo nguyên lý quy nạp toán học, mệnh đề là đúng. \Box

Continue reading “Subconvex sequences”

Limit of a sequence


Giải tích thực là một nhánh của giải tích toán học nghiên cứu dáng điệu của dãy thực, chuỗi thực, và hàm giá trị thực. Một khái niệm trung tâm của giải tích thực là dãy hội tụ.

Định nghĩa 1. Một dãy số thực \left(u_{n}\right) hội tụ đến một số thực l, hay l là một giới hạn của dãy số (u_n), nếu với mỗi số thực dương \epsilon, tồn tại số nguyên dương N sao cho mỗi khi n \geq N, ta có \left|u_{n}-l\right|<\epsilon. Nếu một dãy số có một giới hạn ta nói nó là dãy hội tụ, nếu nó không có giới hạn, ta nói nó là dãy phân kỳ.

Để chỉ \left(u_{n}\right) hội tụ đến l, ta viết \lim u_{n}=l hoặc \lim \left(u_{n}\right) =l. Ký hiệu \displaystyle \lim _{n \rightarrow \infty} u_{n}=l cũng hay được dùng. Định nghĩa trên có thể gây rối đối với những bạn mới học giải tích, sau đây chúng tôi giới thiệu một định nghĩa khác, hình học hơn. Để làm điều này ta cần đến:

Định nghĩa 2. Cho số thực l và số thực \epsilon>0, tập

U_{\epsilon}(l)=\{x \in \mathbb{R}:|x-l|<\epsilon\} được gọi là \epsilon-lân cận của l.

Để ý rằng U_{\epsilon}(l) gồm tất cả các điểm trên trục số cách điểm l một khoảng bé hơn \epsilon. Nói cách khác, U_{\epsilon}(l) là một khoảng có tâm tại l và bán kính \epsilon.

Định nghĩa 3. Một dãy số thực \left(u_{n}\right) hội tụ đến một số thực l, hay l là một giới hạn của dãy số (u_n), nếu với mỗi \epsilon-lân cận U_{\epsilon}(l) của l, có một vị trí trong dãy mà từ đó trở đi, mọi số hạng của dãy đều thuộc U_{\epsilon}(l). Nói cách khác, mỗi \epsilon-lân cận của l đều chứa hầu hết (chỉ trừ một số hữu hạn) các số hạng của dãy (u_n).

Số N nói chung phụ thuộc vào \epsilon. Khi \epsilon càng nhỏ có thể N càng lớn. Định nghĩa giới hạn của một dãy số thực được sử dụng để kiểm tra xem một số thực l có là giới hạn của dãy hay không, nó không cho ta cách xác định giới hạn của dãy.

Ví dụ 1. Với mọi số thực a, dãy hằng a,a,a,\ldots hội tụ đến a.

Lời giải. Xét một số thực a. Ta phải chứng minh \lim u_n=a, trong đó (u_n)_{n\geq 1} là dãy số xác định bởi u_n=a với mọi số nguyên dương n. Với một số thực dương \epsilon bất kỳ, chọn N=1, ta có \mid u_n-a\mid =\mid a-a\mid =0<\epsilon,\quad\forall n\geq N. Từ đây ta có điều cần chứng minh. \Box

Ví dụ 2. Chứng minh rằng \lim\dfrac{1}{\sqrt{n}}=0.

Lời giải. Ta phải chứng minh \lim u_n=0, trong đó (u_n)_{n\geq 1} là dãy số xác định bởi u_n=\dfrac{1}{\sqrt{n}} với mọi số nguyên dương n. Với một số thực dương \epsilon bất kỳ, chọn N=2+[1/\epsilon^2], ta có \mid u_n-0\mid =\frac{1}{\sqrt{n}}<\epsilon,\quad\forall n\geq N. Từ đây ta có điều cần chứng minh. \Box

Ví dụ 3. Chứng minh rằng \lim\dfrac{n+1}{n}=1.

Lời giải. Ta phải chứng minh \lim u_n=1, trong đó (u_n)_{n\geq 1} là dãy số xác định bởi u_n=\dfrac{n+1}{{n}} với mọi số nguyên dương n. Với một số thực dương \epsilon bất kỳ, chọn N=2+[1/\epsilon], ta có \mid u_n-1\mid =\frac{1}{{n}}<\epsilon,\quad\forall n\geq N. Từ đây ta có điều cần chứng minh. \Box

Continue reading “Limit of a sequence”

Burnside’s lemma


Cho X là một tập hợp và G là một nhóm. Ta nói G tác động trên X, hay X là một G-tập, nếu có hàm G\times X\to X, (g,x)\mapsto gx thoả mãn ex=x\forall x\in Xg_1(g_2x)=(g_1g_2)x\forall x\in X\forall g_1,g_2\in G, ở đây e là phần tử đơn vị của G.

Gìơ ta xét một G-tập X, với mỗi x\in X, ta gọi quỹ đạo của x là tập \{gx|g\in G\}. Các quỹ đạo khác nhau của các phần tử trong X làm thành một phân hoạch của X, thật vậy, quan hệ xRy nếu có g\in G để x=gy là một quan hệ tương đương trên X. Khi XG là các tập hữu hạn thì ta có thể tính số khối của phân hoạch này theo bổ đề sau đây.

Bổ đề Burnside. Nếu X là một G-tập hữu hạn (nghĩa là XG là các tập hữu hạn và X là một G-tập) và N là số các quỹ đạo khác nhau của các phần tử trong X thì N=\dfrac{1}{|G|}\sum_{g\in G}F(g), trong đó với mỗi g\in G, F(g) là số phần tử của tập \{x\in X|gx=x\}.

Tôi sẽ không đưa ra chứng minh nào của bổ đề này ở  đây, các bạn có thể tìm một chứng minh  trong sách Tổ hợp của Ngô Đắc Tân hay sách về lý thuyết nhóm của Rotman. Gìơ ta đi xét các áp dụng của bổ đề này vào giải các bài toán đếm, các bài tập này đều có trong sách của Rotman.

Bài 1. Cho nq là các số nguyên dương. Hỏi có bao nhiêu lá cờ gồm n mảnh sao cho mỗi mảnh mang một trong q màu cho trước?(Ví dụ một lá cờ như vậy là cờ của Pháp gồm 3 mảnh).

Lời giải. Vì khi ta tô màu một mặt của lá cờ thì mặt sau sẽ được xác định hoàn toàn màu. Nên số lá cờ bằng số cách tô bảng 1\times n bởi q màu, hai cách tô là như nhau nếu nó ở dạng như hình dưới đây.

(Trong hình trên các c_i là các màu.)

Gọi X là tập các bộ (c_1,c_2,\cdots,c_n) với c_i là một trong q màu đã cho với mỗi i. Ký hiệu S_n là nhóm các hoán vị trên \{1,2,\cdots,n\}, G là nhóm con cyclic sinh bởi hoán vị f của S_n, ở đây f(i)=n+1-i\forall i. Ta cho G tác động trên X theo luật f(c_1,c_2,\cdots,c_n)=(c_n,c_{n-1},\cdots,c_1). Như trên đã phân tích, ta chỉ cần đếm số N các quỹ đạo của các phần tử của x theo tác động này là xong. Theo bổ đề Burnside, ta chỉ cần tính F(id)F(f). Dễ thấy F(id)=|X|=q^n theo quy tắc nhân. Để tính F(f), ta chú ý rằng (c_1,c_2,\cdots,c_n)\in X không thay đổi khi tác động f nếu và chỉ nếu c_1=c_n,c_2=c_{n-1},\cdots, vậy cùng theo quy tắc nhân ta có F(f)=q^{[\dfrac{n+1}{2}]}. Như thế đáp số của bài toán là \dfrac{1}{2}(q^n+q^{[\dfrac{n+1}{2}]}).

Bài 2. Cho nq là các số nguyên dương. Chứng minh rằng có

\dfrac{1}{4}(q^{n^2}+2q^{[\dfrac{n^2+3}{4}]}+q^{[\dfrac{n^2+1}{2}]}) cách tô màu bảng vuông n\times n bởi q màu.

Lời giải sơ lược. Lời giải y hệt như trường hợp trên. Ta đánh số các ô của bảng theo kiểu xoáy ốc, chia hai trường hợp n chẵn, lẻ cho dễ đánh số. Tập X bây giờ là tập tất cả các bộ (c_1,c_2,\cdots,c_{n^2}), nhóm G bây giờ là nhóm con cyclic cấp 4 sinh bởi phép quay +90^0 của S_{n^2}.

Chú ý.  Khi n=3,q=n ta có bài số 5 trong VMO 2010.



Combinatorial Nullstellensatz


Trong bài này chúng tôi giới thiệu một chứng minh ngắn của định lý không điểm tổ hợp của Noga Alon, và sử dụng nó chứng minh định lý Cauchy – Davenport (xem [1]). Từ bây giờ, khi nói đến trường thì các bạn hiểu là nói đến \displaystyle \mathbb{C}, \displaystyle \mathbb{R}, \displaystyle \mathbb{Q}, hay \displaystyle \mathbb{Z}/p\mathbb{Z}.

Định lý 1 (N. Alon, 1999). Cho \displaystyle \mathbb{F} là một trường bất kỳ, và cho \displaystyle P\left(x_{1}, \ldots, x_{n}\right) là một đa thức trong \displaystyle \mathbb{F}\left[x_{1}, \ldots, x_{n}\right]. Giả sử bậc của \displaystyle P\displaystyle \sum_{i=1}^{n} k_{i}, trong đó \displaystyle k_{i} là một số nguyên không âm, và hệ số của đơn thức \displaystyle x_{1}^{k_{1}} x_{2}^{k_{2}} \cdots x_{n}^{k_{n}} trong \displaystyle P khác không. Khi đó với mỗi tập con \displaystyle A_{1}, \ldots, A_{n} của \displaystyle \mathbb{F} thỏa mãn \displaystyle \left|A_{i}\right| \geq k_{i}+1 với mỗi \displaystyle i=1,2, \ldots, n, tồn tại \displaystyle a_{1} \in A_{1}, \ldots, a_{n} \in A_{n} để \displaystyle P\left(a_{1}, \ldots, a_{n}\right) \neq 0.

Định lý trên được gọi là định lý không điểm tổ hợp, nó là một tổng quát của kết quả: Với mỗi đa thức khác không \displaystyle f(x) với hệ số thuộc một trường \displaystyle \mathbb F, số nghiệm của \displaystyle f trong \displaystyle \mathbb F không vượt quá \displaystyle \deg f.

Chứng minh (Mateusz Michalek). Khẳng định là đúng một cách hiển nhiên khi \displaystyle P là đa thức hằng, bây giờ ta xét trường hợp còn lại.

Quy nạp theo \displaystyle \deg P. Nếu \displaystyle \deg(P)=1 thì định lý là đúng. Giả sử \displaystyle \deg(P)>1\displaystyle P thỏa mãn các giả thiết của định lý nhưng kết luận là sai. Nghĩa là \displaystyle P(x)=0 với mọi \displaystyle x \in A_{1} \times \ldots \times A_{n}. Không mất tính tổng quát, giả sử \displaystyle k_{1}>0. Xét một \displaystyle a \in A_{1} và viết

\displaystyle P=\left(x_{1}-a\right) Q+R\quad \quad (1)

bằng cách sử dụng thuật toán chia. Xem (1) là một đẳng thức của các đa thức một biến \displaystyle x_{1} với hệ số thuộc \displaystyle \mathbb{F}\left[x_{2}, \ldots, x_{n}\right]. Vì bậc của \displaystyle R theo biến \displaystyle x_{1} là bé hơn \displaystyle \deg\left(x_{1}-a\right), đa thức \displaystyle R không chứa \displaystyle x_{1}. Từ giả thiết về \displaystyle P ta có \displaystyle Q phải có một đơn thức không bị triệt tiêu có dạng \displaystyle x_{1}^{k_{1}-1} x_{2}^{k_{2}} \cdots x_{n}^{k_{n}}

\displaystyle \deg(Q)=\sum_{i=1}^{n} k_{i}-1=\deg(P)-1.   

Lấy mỗi \displaystyle x \in\{a\} \times A_{2} \times \ldots \times A_{n} và thay vào (1). Vì \displaystyle P(x)=0 ta có \displaystyle R(x)=0. Nhưng \displaystyle R không chứa \displaystyle x_{1}, suy ra \displaystyle R cũng bằng không trên \displaystyle \left(A_{1}-\{a\}\right) \times A_{2} \times \ldots \times A_{n}.

Bây giờ thay mỗi \displaystyle x \in\left(A_{1}-\{a\}\right) \times A_{2} \times \ldots \times A_{n} vào (1). Vì \displaystyle x_{1}-a khác không, ta có \displaystyle Q(x)=0. Vậy là \displaystyle Q bằng không trên \displaystyle \left(A_{1}-\{a\}\right) \times A_{2} \times \ldots \times A_{n}, trái với giả thiết quy nạp. \Box

Một áp dụng đầu tiên là chứng minh ngắn của định lý Cauchy – Davenport trong lý thuyết số cộng tính. Định lý được chứng minh đầu tiên bởi Cauchy vào năm 1813 và bởi Davenport vào năm 1935. Cho \displaystyle A\displaystyle B là hai tập con khác rỗng của \displaystyle \mathbb{Z}/{p}\mathbb{Z} với \displaystyle \mid A\mid =a\displaystyle \mid B\mid =b. Hỏi tập

\displaystyle A+B:=\{a+b\mid (a,b)\in A\times B\}

có thể có ít nhất bao nhiêu phần tử?

Định lý 2 (Cauchy – Davenport). Cho số nguyên tố \displaystyle p và cho \displaystyle A\displaystyle B là hai tập con khác rỗng của \displaystyle \mathbb{Z}/{p}\mathbb{Z} với \displaystyle \mid A\mid =a\displaystyle \mid B\mid =b. Khi đó

\displaystyle |A+B|\geq\min \{p,a+b-1\}.

Chứng minh. Nếu \displaystyle a+b>p thì \displaystyle \mid A+B\mid =p. Thật vậy, với mỗi \displaystyle g\in \mathbb{Z}/{p}\mathbb{Z}, hai tập \displaystyle g-A\displaystyle B có giao khác rỗng vì \displaystyle a+b>p. Lấy \displaystyle h\in (g-A)\cap B ta có ngay \displaystyle h=b=g-a\quad (a\in A,b\in B), suy ra \displaystyle g=a+b\in A+B. Từ đây ta có \displaystyle |A+B|=p=\min \{p,a+b-1\}.

Bây giờ ta xét \displaystyle a+b\leq p và giả sử bất đẳng thức là sai. Gọi \displaystyle C là một tập có cỡ \displaystyle a+b-2 trong \displaystyle \mathbb{Z}/{p}\mathbb{Z} chứa \displaystyle A+B. Xét đa thức

\displaystyle f(x, y)=\prod_{c \in C}(x+y-c)

trên \displaystyle \mathbb{Z}/{p}\mathbb{Z}. Đây là một đa thức hai biến có bậc \displaystyle a+b-2. Ta sẽ chứng minh

\displaystyle \left[x^{a-1} y^{b-1}\right] f(x, y)=\left(\begin{array}{c}a+b-2 \\ a-1\end{array}\right) \not =0.

Để hình thành hệ số này khi khai triển \displaystyle f, ta chọn \displaystyle x đúng \displaystyle a-1 lần và \displaystyle y đúng \displaystyle b-1 lần trong \displaystyle a+b-2 thừa số. Như vậy ta có đẳng thức đầu. Hệ số nhị thức khác không là vì \displaystyle a+b-2<p\displaystyle p là số nguyên tố.

\displaystyle |A|=a\displaystyle |B|=b, định lý không điểm tổ hợp cho ta \displaystyle x \in A\displaystyle y \in B\displaystyle f(x, y) \neq 0. Điều này không thể xảy ra vì \displaystyle f đã được dựng để triệt tiêu trên mọi cặp \displaystyle (x, y) như vậy. \Box

Bài đọc thêm

[1] https://nttuan.org/2014/09/29/cauchy-davenport/