A Proof of Beatty’s Theorem


Cho số thực \alpha. Dãy Beatty của \alpha là dãy (a_n)_{n\geq 1} xác định bởi a_n=[n\alpha],\quad \forall n\geq 1.

Định lý (Beatty). Cho hai số thực dương \alpha\beta. Khi đó các dãy Beatty của \alpha\beta làm thành một phân hoạch của tập các số nguyên dương khi và chỉ khi \alpha\beta là các số vô tỷ và

\displaystyle \frac{1}{\alpha}+\frac{1}{\beta}=1.

Chứng minh. Đặt S_{\alpha}=\{[n\alpha]|n=1,2,\ldots\}\displaystyle S_{\beta}=\{[n\beta]|n=1,2,\ldots\}.

Giả sử S_{\alpha}S_{\beta} làm thành một phân hoạch của tập các số nguyên dương. Ta thấy ngay \alpha\beta lớn hơn 1, suy ra hai dãy Beatty của hai số này là các dãy tăng. Ta sẽ sử dụng phương pháp mật độ trong lý thuyết số giải tích.

Với mỗi số nguyên dương k, cố định nó. Xét một số nguyên dương n, ta có

\displaystyle [n\alpha]\leq k\Leftrightarrow n\alpha < k+1\Leftrightarrow n < \dfrac{k+1}{\alpha}.

Suy ra |S_{\alpha}\cap \{1, 2, \ldots, k\}|=\left[\dfrac{k+1}{\alpha}\right] hoặc \left[\dfrac{k+1}{\alpha}\right]-1 tùy theo \dfrac{k+1}{\alpha} không nằm trong hay nằm trong \mathbb{Z}. Chứng minh tương tự ta có \displaystyle |S_{\beta}\cap \{1, 2, \ldots, k\}|=\left[\dfrac{k+1}{\beta}\right] hoặc \left[\dfrac{k+1}{\beta}\right]-1 tùy theo \dfrac{k+1}{\beta} không nằm trong hay nằm trong \mathbb{Z}.

|S_{\alpha}\cap \{1, 2, \ldots, k\}|+|S_{\beta}\cap \{1, 2, \ldots, k\}|=k, suy ra

\displaystyle -2+\left[\dfrac{k+1}{\alpha}\right]+\left[\dfrac{k+1}{\beta}\right]\leq k\leq \left[\dfrac{k+1}{\alpha}\right]+\left[\dfrac{k+1}{\beta}\right].

Kết hợp với định nghĩa phần nguyên ta được

\displaystyle -4+\dfrac{k+1}{\alpha}+\dfrac{k+1}{\beta} < k\leq \dfrac{k+1}{\alpha}+\dfrac{k+1}{\beta}.

Chia các vế cho k và cho k\to+\infty ta có \dfrac{1}{\alpha}+\dfrac{1}{\beta}=1. Nếu \alpha là số hữu tỷ thì từ đẳng thức này ta có \beta cũng là số hữu tỷ. Viết \displaystyle \alpha=\dfrac{p}{q},\quad \beta=\dfrac{r}{s}, với p, q, r, và s là các số nguyên dương. Ta thấy S_{\alpha}\cap S_{\beta}\not=\emptyset, chẳng hạn pr thuộc cả hai tập này, suy ra vô lý. Bởi vậy \alpha là số vô tỷ, và \beta cũng thế.

Bây giờ giả sử ngược lại, \alpha\beta là các số vô tỷ và \dfrac{1}{\alpha}+\dfrac{1}{\beta}=1. Ta thấy ngay \alpha\beta lớn hơn 1, suy ra hai dãy Beatty của hai số này là các dãy tăng. Nếu S_{\alpha}\cap S_{\beta}\not=\emptyset thì tồn tại các số nguyên dương k,mn sao cho k=[m\alpha]=[n\beta]. Suy ra

\displaystyle k\leq m\alpha < k+1,\quad k\leq n\beta < k+1.

\alpha\beta là các số vô tỷ nên

\displaystyle k < m\alpha < k+1,\quad k < n\beta < k+1,

suy ra

\displaystyle \frac{k}{\alpha} < m < \frac{k+1}{\alpha},\quad \frac{k}{\beta} < n < \frac{k+1}{\beta},

cộng theo vế ta có k < m+n < k+1, vô lý. Như vậy S_{\alpha}\cap S_{\beta}=\emptyset.

Nếu tồn tại số nguyên dương l sao cho l\not\in S_{\alpha}\cup S_{\beta} thì tồn tại các số nguyên không âm pq sao cho

\displaystyle [p\alpha] < l < [(p+1)\alpha], \quad [q\beta] < l < [(q+1)\beta].

l là số nguyên nên từ các bất đẳng thức trên ta suy ra p\alpha < l, đồng thời [(p+1)\alpha] \geq l+1 kéo theo (p+1)\alpha \geq l+1. Lập luận tương tự cho \beta, ta được

\displaystyle p\alpha < l < l+1\leq (p+1)\alpha,\quad q\beta < l < l+1\leq (q+1)\beta.

\alpha,\beta là các số vô tỷ nên

\displaystyle p\alpha < l < l+1 < (p+1)\alpha,\quad q\beta < l < l+1 < (q+1)\beta.

Chia các vế cho \alpha,\beta và cộng lại ta có

\displaystyle p+q < l < l+1 < p+q+2,

điều này không thể xảy ra (do khoảng mở (p+q, p+q+2) có độ dài bằng 2 nên chỉ chứa đúng một số nguyên là p+q+1). \blacksquare