An Upper Bound for the Divisor Function


Bổ đề. Với mỗi số nguyên dương n, ta có \tau (n)\leq \sqrt{3n}.

Lời giải. Với n=1 ta có ngay bất đẳng thức cần chứng minh. Giả sử n>1 và phân tích tiêu chuẩn ra thừa số nguyên tố của nó là \displaystyle n = p_1^{\alpha_1} p_2^{\alpha_2} \cdots p_k^{\alpha_k}, trong đó p_i là các số nguyên tố (p_1 < p_2 < \dots < p_k) và \alpha_i \ge 1 là các số nguyên dương.

Bất đẳng thức cần chứng minh \tau(n) \le \sqrt{3n} có thể được viết lại dưới dạng

\displaystyle\prod_{i=1}^k \frac{\alpha_i + 1}{p_i^{\alpha_i / 2}} \le \sqrt{3}.

Để tiện đánh giá, ta xét hàm số f(p, \alpha) = \frac{\alpha + 1}{p^{\alpha / 2}} với p là số nguyên tố và \alpha \ge 1. Ta sẽ tìm giá trị lớn nhất của hàm f(p, \alpha) đối với từng số nguyên tố p.

Với p = 2, giá trị lớn nhất của của f(2, \alpha) là \frac{3}{2}, đạt được khi và chỉ khi \alpha = 2. Với p = 3, giá trị lớn nhất của f(3, \alpha) là \frac{2}{\sqrt{3}}, đạt được khi và chỉ khi \alpha = 1. Với p\geq 5, ta có
\displaystyle f(p, \alpha) \le \frac{2}{\sqrt{5}} < 1
với mọi số nguyên dương \alpha.

Từ các đánh giá trên, ta quay lại tích ban đầu \displaystyle\frac{\tau(n)}{\sqrt{n}} = \prod_{p_i \mid n} f(p_i, \alpha_i).

Nếu trong phân tích của n có chứa các thừa số nguyên tố p \ge 5, các thành phần này sẽ kéo giá trị của tích xuống (vì chúng nhỏ hơn 1). Do đó để biểu thức đạt giá trị lớn nhất, n chỉ có thể chứa các ước nguyên tố là 2 và 3. Với các n này ta có

\displaystyle \frac{\tau(n)}{\sqrt{n}} \le f(2, \alpha_2) \cdot f(3, \alpha_3) \le \frac{3}{2} \cdot \frac{2}{\sqrt{3}} = \sqrt{3}.

Bất đẳng thức \tau(n) \le \sqrt{3n} đã được chứng minh hoàn toàn. \Box

Chú ý. Dấu đẳng thức xảy ra khi và chỉ khi các điều kiện sau phải được thỏa mãn đồng thời:

  1. f(2, \alpha_2) = \frac{3}{2}.
  2. f(3, \alpha_3) = \frac{2}{\sqrt{3}}.
  3. n không có bất kỳ ước nguyên tố nào khác ngoài 2 và 3.

Vậy dấu đẳng thức xảy ra khi và chỉ khi n = 2^2 \cdot 3^1 = 12.

Combinatorial Nullstellensatz


Trong bài này chúng tôi giới thiệu một chứng minh ngắn của định lý không điểm tổ hợp của Noga Alon, và sử dụng nó chứng minh định lý Cauchy – Davenport (xem [1]). Từ bây giờ, khi nói đến trường thì các bạn hiểu là nói đến \displaystyle \mathbb{C}, \displaystyle \mathbb{R}, \displaystyle \mathbb{Q}, hay \displaystyle \mathbb{Z}/p\mathbb{Z}.

Định lý 1 (N. Alon, 1999). Cho \displaystyle \mathbb{F} là một trường bất kỳ, và cho \displaystyle P\left(x_{1}, \ldots, x_{n}\right) là một đa thức trong \displaystyle \mathbb{F}\left[x_{1}, \ldots, x_{n}\right]. Giả sử bậc của \displaystyle P là \displaystyle \sum_{i=1}^{n} k_{i}, trong đó \displaystyle k_{i} là một số nguyên không âm, và hệ số của đơn thức \displaystyle x_{1}^{k_{1}} x_{2}^{k_{2}} \cdots x_{n}^{k_{n}} trong \displaystyle P khác không. Khi đó với mỗi tập con \displaystyle A_{1}, \ldots, A_{n} của \displaystyle \mathbb{F} thỏa mãn \displaystyle \left|A_{i}\right| \geq k_{i}+1 với mỗi \displaystyle i=1,2, \ldots, n, tồn tại \displaystyle a_{1} \in A_{1}, \ldots, a_{n} \in A_{n} để \displaystyle P\left(a_{1}, \ldots, a_{n}\right) \neq 0.

Định lý trên được gọi là định lý không điểm tổ hợp, nó là một tổng quát của kết quả: Với mỗi đa thức khác không \displaystyle f(x) với hệ số thuộc một trường \displaystyle \mathbb F, số nghiệm của \displaystyle f trong \displaystyle \mathbb F không vượt quá \displaystyle \deg f.

Chứng minh (Mateusz Michalek). Khẳng định là đúng một cách hiển nhiên khi \displaystyle P là đa thức hằng, bây giờ ta xét trường hợp còn lại.

Quy nạp theo \displaystyle \deg P. Nếu \displaystyle \deg(P)=1 thì định lý là đúng. Giả sử \displaystyle \deg(P)>1 và \displaystyle P thỏa mãn các giả thiết của định lý nhưng kết luận là sai. Nghĩa là \displaystyle P(x)=0 với mọi \displaystyle x \in A_{1} \times \ldots \times A_{n}. Không mất tính tổng quát, giả sử \displaystyle k_{1}>0. Xét một \displaystyle a \in A_{1} và viết

\displaystyle P=\left(x_{1}-a\right) Q+R\quad \quad (1)

bằng cách sử dụng thuật toán chia. Xem (1) là một đẳng thức của các đa thức một biến \displaystyle x_{1} với hệ số thuộc \displaystyle \mathbb{F}\left[x_{2}, \ldots, x_{n}\right]. Vì bậc của \displaystyle R theo biến \displaystyle x_{1} là bé hơn \displaystyle \deg\left(x_{1}-a\right), đa thức \displaystyle R không chứa \displaystyle x_{1}. Từ giả thiết về \displaystyle P ta có \displaystyle Q phải có một đơn thức không bị triệt tiêu có dạng \displaystyle x_{1}^{k_{1}-1} x_{2}^{k_{2}} \cdots x_{n}^{k_{n}} và

\displaystyle \deg(Q)=\sum_{i=1}^{n} k_{i}-1=\deg(P)-1.   

Lấy mỗi \displaystyle x \in\{a\} \times A_{2} \times \ldots \times A_{n} và thay vào (1). Vì \displaystyle P(x)=0 ta có \displaystyle R(x)=0. Nhưng \displaystyle R không chứa \displaystyle x_{1}, suy ra \displaystyle R cũng bằng không trên \displaystyle \left(A_{1}-\{a\}\right) \times A_{2} \times \ldots \times A_{n}.

Bây giờ thay mỗi \displaystyle x \in\left(A_{1}-\{a\}\right) \times A_{2} \times \ldots \times A_{n} vào (1). Vì \displaystyle x_{1}-a khác không, ta có \displaystyle Q(x)=0. Vậy là \displaystyle Q bằng không trên \displaystyle \left(A_{1}-\{a\}\right) \times A_{2} \times \ldots \times A_{n}, trái với giả thiết quy nạp. \Box

Một áp dụng đầu tiên là chứng minh ngắn của định lý Cauchy – Davenport trong lý thuyết số cộng tính. Định lý được chứng minh đầu tiên bởi Cauchy vào năm 1813 và bởi Davenport vào năm 1935. Cho \displaystyle A và \displaystyle B là hai tập con khác rỗng của \displaystyle \mathbb{Z}/{p}\mathbb{Z} với \displaystyle \mid A\mid =a và \displaystyle \mid B\mid =b. Hỏi tập

\displaystyle A+B:=\{a+b\mid (a,b)\in A\times B\}

có thể có ít nhất bao nhiêu phần tử?

Định lý 2 (Cauchy – Davenport). Cho số nguyên tố \displaystyle p và cho \displaystyle A và \displaystyle B là hai tập con khác rỗng của \displaystyle \mathbb{Z}/{p}\mathbb{Z} với \displaystyle \mid A\mid =a và \displaystyle \mid B\mid =b. Khi đó

\displaystyle |A+B|\geq\min \{p,a+b-1\}.

Chứng minh. Nếu \displaystyle a+b>p thì \displaystyle \mid A+B\mid =p. Thật vậy, với mỗi \displaystyle g\in \mathbb{Z}/{p}\mathbb{Z}, hai tập \displaystyle g-A và \displaystyle B có giao khác rỗng vì \displaystyle a+b>p. Lấy \displaystyle h\in (g-A)\cap B ta có ngay \displaystyle h=b=g-a\quad (a\in A,b\in B), suy ra \displaystyle g=a+b\in A+B. Từ đây ta có \displaystyle |A+B|=p=\min \{p,a+b-1\}.

Bây giờ ta xét \displaystyle a+b\leq p và giả sử bất đẳng thức là sai. Gọi \displaystyle C là một tập có cỡ \displaystyle a+b-2 trong \displaystyle \mathbb{Z}/{p}\mathbb{Z} chứa \displaystyle A+B. Xét đa thức

\displaystyle f(x, y)=\prod_{c \in C}(x+y-c)

trên \displaystyle \mathbb{Z}/{p}\mathbb{Z}. Đây là một đa thức hai biến có bậc \displaystyle a+b-2. Ta sẽ chứng minh

\displaystyle \left[x^{a-1} y^{b-1}\right] f(x, y)=\left(\begin{array}{c}a+b-2 \\ a-1\end{array}\right) \not =0.

Để hình thành hệ số này khi khai triển \displaystyle f, ta chọn \displaystyle x đúng \displaystyle a-1 lần và \displaystyle y đúng \displaystyle b-1 lần trong \displaystyle a+b-2 thừa số. Như vậy ta có đẳng thức đầu. Hệ số nhị thức khác không là vì \displaystyle a+b-2<p và \displaystyle p là số nguyên tố.

Vì \displaystyle |A|=a và \displaystyle |B|=b, định lý không điểm tổ hợp cho ta \displaystyle x \in A và \displaystyle y \in B mà \displaystyle f(x, y) \neq 0. Điều này không thể xảy ra vì \displaystyle f đã được dựng để triệt tiêu trên mọi cặp \displaystyle (x, y) như vậy. \Box

Bài đọc thêm

[1] https://nttuan.org/2014/09/29/cauchy-davenport/

Làm thế nào để cải thiện trực giác Toán học?


Trực giác Toán học có thể được hiểu là khả năng nhận ra các mẫu hình, mối liên hệ, hoặc cách tiếp cận một bài toán mà không cần dựa hoàn toàn vào các bước suy luận logic chi tiết. Trực giác này giống như một “cảm giác” về Toán học, cho phép người học dự đoán, hình dung, và đưa ra giả thuyết một cách tự nhiên. Trực giác Toán học không phải là một “phép màu” hay sự đoán mò. Nó được xây dựng dựa trên kinh nghiệm, sự quen thuộc với các khái niệm Toán học, và khả năng liên kết các ý tưởng. Nhà Toán học nổi tiếng Henri Poincaré từng mô tả trực giác như một công cụ giúp ông khám phá các ý tưởng mới, nhưng chỉ khi kết hợp với tư duy logic thì trực giác mới trở thành nền tảng cho những khám phá lớn.

Để cải thiện trực giác Toán học, bạn cần rèn luyện khả năng nhận diện các cấu hình, hiểu sâu các khái niệm và áp dụng chúng một cách linh hoạt. Dưới đây là một số kinh nghiệm hữu ích:

1. Thay vì chỉ học thuộc khái niệm hay định lý, hãy tìm hiểu tại sao chúng hoạt động. Đọc các chứng minh khác nhau khi học định lý, cố gắng nắm rõ ý tưởng chứng minh. Ngoài ra, có thể tự hỏi: Khái niệm này đến từ đâu? Ý nghĩa của kết quả này là gì? Nếu thay đổi hay bỏ bớt điều kiện, kết quả sẽ ra sao? Nó còn đúng không? Việc tìm câu trả lời sẽ kích thích tư duy trực giác và khả năng liên kết.

2. Giải nhiều bài toán ở các mức độ khác nhau, kể cả các bài toán mở. Các bài toán hình học, đại số, hay tổ hợp thường giúp phát triển trực giác nhờ tính trực quan. Những bài toán mở khuyến khích bạn suy nghĩ sáng tạo và hình dung cách giải quyết vấn đề.

3. Vẽ hình, biểu đồ, hoặc sơ đồ để minh họa bài toán. Chúng giúp bạn “thấy” được các mối liên hệ. Sử dụng các công cụ như GeoGebra hoặc giấy và bút để thử nghiệm các ý tưởng.

4. Thử giải bài toán theo nhiều cách khác nhau. Ví dụ, một bài toán hình học có thể được giải bằng đại số, lượng giác, hoặc hình học thuần túy. Điều này giúp bạn phát triển sự linh hoạt và nhận ra các mẫu ẩn. Khi gặp bài toán khó, hãy cố gắng chia nhỏ hoặc giải các bài toán đơn giản hơn.

5. Khi giải sai hay không giải được một bài toán, hãy dừng lại và phân tích lý do. Hỏi bản thân: “Mình đã bỏ qua điều gì?” hoặc “Có tính chất nào mình chưa nhận ra không?” Đây là cơ hội để phát triển trực giác, vì chúng chỉ ra những điểm mù trong tư duy.

6. Đọc và học từ các nguồn chất lượng. Đọc sách, xem video bài giảng hoặc bài viết của các nhà Toán học nổi tiếng để hiểu cách họ tiếp cận vấn đề. Các cuốn sách như “How to Solve It” của George Polya hoặc “The Art and Craft of Problem Solving” của Paul Zeitz rất hữu ích.

7. Hãy học hỏi từ những người khác ngoài thầy trực tiếp dạy bạn. Tham gia các nhóm học Toán hoặc diễn đàn như Art of Problem Solving. Thảo luận với người khác giúp tiếp cận các cách suy nghĩ mới và củng cố trực giác của mình. Dạy lại khái niệm cho người khác. Khi bạn giải thích một ý tưởng Toán học, bạn buộc phải hiểu nó sâu hơn, từ đó cải thiện trực giác.

Trực giác Toán học cần phải được rèn luyện thường xuyên, bạn nên dành thời gian mỗi ngày để giải một bài toán nhỏ hoặc suy nghĩ về một khái niệm mới. Trực giác Toán học không phát triển ngay lập tức, nó đòi hỏi thời gian và sự kiên trì. Hãy coi mỗi bài toán là một cơ hội để học hỏi, ngay cả khi bạn chưa tìm ra lời giải.

The sum of the reciprocals of the primes


Với mỗi số nguyên dương n, ký hiệu p_n là số nguyên tố thứ n trong dãy tăng tất cả các số nguyên tố. Như vậy p_1=2, p_2=3, p_3=5,…

Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu một chứng minh của kết quả sau:

Định lý. Chuỗi \displaystyle \frac{1}{p_1}+\frac{1}{p_2}+\frac{1}{p_3}+\ldots là một chuỗi phân kỳ.

Chứng minh. Giả sử ngược lại, khi đó với mỗi số nguyên dương k, chuỗi \displaystyle\sum_{m=k}^{+\infty}\frac{1}{p_m} là một chuỗi hội tụ, gọi S_k là tổng của nó. Vì \lim S_k=0 nên tồn tại số nguyên k sao cho \displaystyle S_{k+1}<\frac{1}{2}. Đặt Q=p_1p_2\ldots p_k và xét các số 1+nQ\, (n=1,2,\ldots). Mỗi số trong dãy này đều không có ước nguyên tố thuộc \{p_1, p_2, \ldots, p_k\}, do đó với mỗi số nguyên dương r, tồn tại số nguyên dương K đủ lớn để

\displaystyle\sum_{n=1}^r\frac{1}{1+nQ}\leq\sum_{t=1}^{K}S_{k+1}^t<1.

Điều này không thể xảy ra do chuỗi \displaystyle \sum_{n=1}^{+\infty}\frac{1}{1+nQ} là một chuỗi phân kỳ. \Box

Tham khảo

[1] https://nttuan.org/2018/12/30/series/

[2] https://en.wikipedia.org/wiki/Divergence_of_the_sum_of_the_reciprocals_of_the_primes

Continued fraction expansion of irrational numbers


In this section we use continued fractions for expansion of irrational numbers.

Theorem 1. Let \displaystyle (x_n)_{n\geq 0} be a sequence of intergers with \displaystyle x_i>0 for every \displaystyle i>0. Then the sequence \displaystyle (p_n/q_n)_{n\geq 0} is a convergent sequence, and the its limit is an irrational number. We denote this limit by \displaystyle [x_0;x_1,x_2,\ldots].

Proof. From [1] we have \displaystyle q_1\geq q_0=1>0 and for all \displaystyle n>1, \displaystyle q_n=x_nq_{n-1}+q_{n-2}, hence by induction on \displaystyle n, \displaystyle q_{n+1}>q_n for every \displaystyle n\geq 1. Therefore \displaystyle\lim_{n\to \infty}q_n=\infty.

By the Proposition 4 in [1], for all \displaystyle n\geq 0,

\displaystyle \frac{p_n}{q_n}-\frac{p_{n+1}}{q_{n+1}}=\frac{(-1)^{n-1}}{q_nq_{n+1}},\quad\quad (1)

hence \displaystyle \frac{p_n}{q_n}-\frac{p_{n+2}}{q_{n+2}}=\frac{(-1)^{n-1}(q_{n+2}-q_n)}{q_nq_{n+1}q_{n+2}},\quad \forall n\geq 0. Therefore

\displaystyle \frac{p_1}{q_1}>\frac{p_3}{q_3}>\frac{p_5}{q_5}>\ldots>\frac{p_0}{q_0}

and

\displaystyle \frac{p_0}{q_0}<\frac{p_2}{q_2}<\frac{p_4}{q_4}<\ldots<\frac{p_1}{q_1},

hence \displaystyle (p_{2n}/q_{2n})_{n\geq 0} and \displaystyle (p_{2n+1}/q_{2n+1})_{n\geq 0} are convergent sequences. By (1) and \displaystyle q_n\to\infty we have

\displaystyle\lim_{n\to\infty}\frac{p_{2n}}{q_{2n}}=\lim_{n\to\infty}\frac{p_{2n+1}}{q_{2n+1}}, so \displaystyle (p_n/q_n)_{n\geq 0} is a convergent sequence.

Now we prove \displaystyle \displaystyle \alpha:=\lim_{n\to\infty}\frac{p_n}{q_n} is an irrational number. We have

\displaystyle \frac{p_{2m}}{q_{2m}}<\alpha<\frac{p_{2n+1}}{q_{2n+1}},\quad\forall m,n\geq 0.

Thus, by (1),

\displaystyle\left|\alpha-\frac{p_{2n}}{q_{2n}}\right|\leq \frac{1}{q_{2n}q_{2n+1}}<\frac{1}{q_{2n}^2},\quad\forall n\geq 1.

By the Proposition 2 in [1], \displaystyle p_{2n} and \displaystyle q_{2n} are coprime integers for every \displaystyle n\geq 1, hence there are infinite rational numbers \displaystyle r/s, with \displaystyle s>0 and \displaystyle (r,s)=1, such that

\displaystyle \left|\alpha-\frac{r}{s}\right| <\frac{1}{s^2}.\quad\quad (2)

Assume that \displaystyle \alpha is rational and write \displaystyle \alpha=p/q, where \displaystyle p and \displaystyle q>0 are coprime integers. For all positive integers \displaystyle s, at most two integers \displaystyle r satisfy the equation (2), hence there are coprime integers \displaystyle r_0 and \displaystyle s_0>q such that

\displaystyle\left|\frac{p}{q}-\frac{r_0}{s_0}\right| <\frac{1}{s_0^2}.

From the inequality we have \displaystyle \mid ps_0-qr_0\mid <1, hence \displaystyle ps_0=qr_0, a contradiction. Therefore \displaystyle \alpha is an irrational number. \Box

Theorem 2. Let \displaystyle \alpha be an irrational number. Then there is a unique sequence of integers \displaystyle (a_n)_{n\geq 0} such that

(1) \displaystyle a_i>0 for every \displaystyle i>0.

(2) \displaystyle \alpha =[a_0;a_1,a_2,\ldots].

Proof. In this proof, \displaystyle [x] is the integer part of \displaystyle x. Because \displaystyle \alpha is an irrational number, we have \displaystyle [\alpha]<\alpha<[\alpha]+1, hence there is a real number \displaystyle u_1>1 such that

\displaystyle \alpha=[\alpha]+\frac{1}{u_1}.

Because \displaystyle \alpha is an irrational and \displaystyle [\alpha] is an integer, \displaystyle u_1 is an irrational number. Hence there is an irrational number \displaystyle u_2>1 such that

\displaystyle u_1=[u_1]+\frac{1}{u_2},

and so on. Therefore we have real numbers \displaystyle u_0:=\alpha, u_1>1, \displaystyle u_2>1, \displaystyle \ldots such that \displaystyle u_i is irrationals for every \displaystyle i>0 and

\displaystyle u_k=[u_k]+\frac{1}{u_{k+1}},\quad\forall k\geq 0.

We claim that \displaystyle \alpha=[[u_0];[u_1],[u_2],\ldots]. Fix a \displaystyle k>2. We have

\displaystyle \alpha=[[u_0];[u_1],\ldots, [u_k],u_{k+1}].

Hence, by Proposition 4 in [1],

\displaystyle \left|\alpha-\frac{p_k}{q_k}\right|=\frac{1}{q_k(u_{k+1}q_{k}+q_{k-1})}<\frac{1}{q_k^2},

so \displaystyle \lim_{n\to\infty}\frac{p_n}{q_n}=\alpha. Now assume that

\displaystyle \alpha =[a_0;a_1,a_2,\ldots]=[b_0;b_1,b_2,\ldots],

where \displaystyle (a_n)_{n\geq 0} and \displaystyle (b_n)_{n\geq 0} are two sequences of integers such that \displaystyle a_i>0 and \displaystyle b_i>0 for every \displaystyle i>0.

Because

\displaystyle [a_0;a_1,a_2,\ldots,a_{n}]=a_0+\frac{1}{[a_1;a_2,\ldots,a_n]},\quad\forall n\geq 0,

we have

\displaystyle [a_0;a_1,a_2,\ldots]=a_0+\frac{1}{[a_1;a_2,\ldots]}.

Hence \displaystyle a_0=b_0=[\alpha] and \displaystyle [a_1;a_2,a_3,\ldots] = [b_1;b_2,b_3,\ldots]. Similarly, \displaystyle a_1=b_1 and

\displaystyle [a_2;a_3,a_4,\ldots] = [b_2;b_3,b_4,\ldots],

and so on. Therefore \displaystyle a_i=b_i for every i. \Box

The equality in the theorem is called an expansion of \displaystyle \alpha into a infinite continued fraction. In that expansion we will call \displaystyle [a_0;a_1,a_2,\ldots,a_i] is the \displaystyle i-th convergent of the continued fraction, or \displaystyle i-th convergent of \displaystyle \alpha. The theorem says that for every irrational number has an expansion into a infinite continued fraction, and this expansion is unique.

Example 1. \displaystyle \sqrt{2}=[1;2,2,\ldots].

Example 2. The golden ratio \displaystyle\varphi:=\frac{1+\sqrt{5}}{2}=[1;1,1,\ldots].

Example 3. \displaystyle e=[2;1,2,1,1,4,1,1,6,1,1,8,\ldots].

A sequence \displaystyle (a_n)_{n\geq 0} is called eventually periodic if \displaystyle a_{n+T}=a_n for some positive integer \displaystyle T and sufficiently large \displaystyle n. A real number is called quadratic irrational number, if there is a polynomial \displaystyle P(x) is of degree two with rational coefficients such that \displaystyle P(x) is an irreducible polynomial (see [3]) over the rational numbers and \displaystyle \alpha is a root of \displaystyle P(x).

Theorem 3. Let \displaystyle \alpha be an irrational number and \displaystyle \alpha =[a_0;a_1,a_2,\ldots] is the expansion of \displaystyle\alpha into a infinite continued fraction. Then \displaystyle (a_n)_{n\geq 1} is eventually periodic if and only if \displaystyle \alpha is a quadratic irrational.

References

[1] https://nttuan.org/2008/10/12/continued-fractions-the-basics/

[2] https://nttuan.org/2008/11/14/continued-fraction-expansion-of-rational-numbers/

[3] https://nttuan.org/2009/01/11/poly02/