The sum of the reciprocals of the primes


Với mỗi số nguyên dương n, ký hiệu p_n là số nguyên tố thứ n trong dãy tăng tất cả các số nguyên tố. Như vậy p_1=2, p_2=3, p_3=5,…

Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu một chứng minh của kết quả sau:

Định lý. Chuỗi \displaystyle \frac{1}{p_1}+\frac{1}{p_2}+\frac{1}{p_3}+\ldots là một chuỗi phân kỳ.

Chứng minh. Giả sử ngược lại, khi đó với mỗi số nguyên dương k, chuỗi \displaystyle\sum_{m=k}^{+\infty}\frac{1}{p_m} là một chuỗi hội tụ, gọi S_k là tổng của nó. Vì \lim S_k=0 nên tồn tại số nguyên k sao cho \displaystyle S_{k+1}<\frac{1}{2}. Đặt Q=p_1p_2\ldots p_k và xét các số 1+nQ\, (n=1,2,\ldots). Mỗi số trong dãy này đều không có ước nguyên tố thuộc \{p_1, p_2, \ldots, p_k\}, do đó với mỗi số nguyên dương r, tồn tại số nguyên dương K đủ lớn để

\displaystyle\sum_{n=1}^r\frac{1}{1+nQ}\leq\sum_{t=1}^{K}S_{k+1}^t<1.

Điều này không thể xảy ra do chuỗi \displaystyle \sum_{n=1}^{+\infty}\frac{1}{1+nQ} là một chuỗi phân kỳ. \Box

Tham khảo

[1] https://nttuan.org/2018/12/30/series/

[2] https://en.wikipedia.org/wiki/Divergence_of_the_sum_of_the_reciprocals_of_the_primes

Perfect rulers


Giả sử ta có một cái thước kẻ dài \displaystyle 6, trên đó đã đánh dấu các điểm \displaystyle 0, \displaystyle 1, \displaystyle 2, \displaystyle 3, \displaystyle 4, \displaystyle 5, \displaystyle 6. Sử dụng chiếc thước này ta có thể tạo mọi đoạn có độ dài thuộc \displaystyle [6], nhưng ta không cần đánh dấu trên thước nhiều điểm như thế để đạt được điều này. Ta có thể đánh dấu \displaystyle 0, \displaystyle 1, \displaystyle 4, 6 là đủ (đoạn độ dài 2 được đo giữa hai điểm 46, đoạn độ dài 3 được đo giữa 14, đoạn độ dài 4 được đo giữa 04, đoạn độ dài 5 được đo giữa 16). Vì C_4^2=6 nên hoàn cảnh này là hoàn hảo.

Bài toán. Cho một số nguyên n lớn hơn 4. Chứng minh rằng không tồn tại n số tự nhiên phân biệt a_1, a_2, \ldots, a_n sao cho mọi số nguyên dương không vượt quá C_n^2 đều có dạng a_i-a_j.

Lời giải. Giả sử ngược lại, tồn tại n số tự nhiên phân biệt a_1, a_2, \ldots, a_n sao cho mọi số nguyên dương không vượt quá C_n^2 đều có dạng a_i-a_j.

Xét đa thức \displaystyle A(z) = \sum_i z^{a_i}. Theo tính chất của các số a_1, a_2, \ldots, a_n, ta có

\displaystyle A(z) \cdot A\left(\frac{1}{z}\right)=\sum_{k=-C_n^2}^{C_n^2} z^k+n-1,\quad \forall z\in\mathbb{C}\setminus \{0\}.

Continue reading “Perfect rulers”

A nonnegative trigonometric polynomial


Bài toán. Cho số tự nhiên n. Chứng minh rằng với mỗi số thực x, ta có

\displaystyle\frac{1}{2}+\frac{\cos x}{2}+\frac{\cos 2x}{3}+\cdots+\frac{\cos nx}{n+1}\geq 0.

Lời giải. Dễ thấy khi \displaystyle n<3 thì khẳng định là đúng. Bây giờ ta xét \displaystyle n\geq 3. Vế trái là hàm số chẵn, tuần hoàn với chu kỳ \displaystyle 2\pi, và bất đẳng thức đúng với \displaystyle x=0. Vì thế ta chỉ cần chứng minh bất đẳng thức khi \displaystyle 0<x\leq \pi. Sử dụng số phức ta chứng minh được kết quả sau:

Bổ đề. \displaystyle \frac{1}{2}+\sum_{k=1}^n\cos kx=\frac{\sin (2n+1)\frac{x}{2}}{2\sin \frac{x}{2}}, và \displaystyle \sum_{k=0}^n\frac{\sin (2k+1)\frac{x}{2}}{2\sin\frac{x}{2}}=\frac{\sin^2(n+1)\frac{x}{2}}{2\sin^2 \frac{x}{2}}.

Gọi vế trái của bất đẳng thức là \displaystyle f_n(x). Dùng biến đổi Abel hai lần và  bổ đề, ta có  \displaystyle 2\sin^2(x/2)f_n(x)=\sum_{k=0}^{n-2}\frac{2\sin^2(k+1)(x/2)}{(k+1)(k+2)(k+3)}+\frac{\sin^2n(x/2)}{n(n+1)}

          \displaystyle +\frac{\sin (2n+1)(x/2)\sin (x/2)}{n+1}.\quad (1)

Nếu \displaystyle (2n+1)\frac{x}{2}\leq \pi thì dễ có điều cần chứng minh, bây giờ ta xét trường hợp còn lại, khi đó \displaystyle n+1>\frac{2\pi+x}{2x}.\quad (2).

Từ \displaystyle (1)\displaystyle n\geq 3, bằng cách dùng hai số hạng đầu trong tổng, ta có bất đẳng thức

\displaystyle 2\sin^2(x/2)f_n(x)\geq \frac{\sin^2(x/2)}{3}+\frac{\sin^2x}{12}-\frac{\sin (x/2)}{n+1}.

Vì thế, bài toán sẽ được giải nếu ta chứng minh được \displaystyle n+1\geq \frac{6}{\sin \frac{x}{2}(3+\cos x)}:=g(x).\quad (3)

Bây giờ ta xét hai trường hợp:

Trường hợp 1: \displaystyle 0<x\leq \pi/3.

Hàm số \displaystyle y=\sin t/t nghịch biến trên \displaystyle (0;\pi/6] nên \displaystyle \sin\frac{x}{2}\geq \frac{3x}{2\pi}, suy ra \displaystyle g(x)\leq \frac{4\pi}{x(3+\cos x)},\displaystyle \cos t\geq 1-\frac{t^2}{2} với mọi \displaystyle t không âm nên \displaystyle g(x)\leq \frac{8\pi}{x(8-x^2)}.\quad (4)

\displaystyle 0<x\leq \pi/3 nên \displaystyle x^2+2\pi x<8, suy ra \displaystyle \frac{8\pi}{x(8-x^2)}<\frac{2\pi+x}{2x}. Kết hợp với \displaystyle (2) ta có \displaystyle (3) đúng.

Trường hợp 2: \pi/3<x\leq \pi.

Bằng cách chuyển về biến \displaystyle t=\sin x/2 ta chứng minh được \displaystyle g(x)<4\leq n+1, và có \displaystyle (3) lại đúng.

Farey sequence and approximation of irrational numbers II


Đây là phần II, các bạn xem lại phần I ở đây https://nttuan.org/2008/04/02/farey-sequence-and-approximation-of-irrational-numbers-i/

Bây giờ chúng tôi sẽ sử dụng các dãy Farey để chứng minh lại một số kết quả về xấp xỉ số vô tỷ bởi số hữu tỷ (xem thêm [1]).

Định lý 4 (Dirichlet, 1842). Cho số vô tỷ \displaystyle \alpha. Khi đó có vô hạn phân số tối giản \displaystyle \frac{a}{q} sao cho

\displaystyle \left|\alpha-\frac{a}{q}\right|<\frac{1}{q^2}. Hơn nữa ta có thể chọn \displaystyle q lớn tùy ý.

Chứng minh. Không mất tính tổng quát ta giả sử \displaystyle 0<\alpha<1. Ta có thể chọn \displaystyle a=0,q=1 để được một phân số tối giản thỏa mãn. Giả sử ta đã xây dựng được một vài phân số, ta sẽ chỉ ra một phân số khác cũng thỏa mãn bất đẳng thức trong định lý nhưng khác tất cả các phân số này. Chọn số nguyên dương \displaystyle n đủ lớn sao cho \displaystyle \frac{1}{n} nhỏ hơn tất cả các khoảng cách từ \displaystyle \alpha đến các phân số đã được tìm. Số \displaystyle \alpha sẽ nằm giữa hai phần số liên tiếp \displaystyle a/b<c/d của \displaystyle F_n, giả sử \displaystyle b\geq d. Vì \displaystyle \frac{c}{d}-\dfrac{a}{b}=\frac{1}{bd}\leq\frac{1}{b+d-1}\leq\frac{1}{n} nên cả \displaystyle a/b\displaystyle c/d đều khác tất cả các phân số trước, mà \displaystyle |\alpha-c/d|<\frac{1}{bd}<\frac{1}{d^2}, suy ra ta có thể chọn $c/d$ là phân số tiếp theo. \Box

Định lý 5 (Hurwitz, 1891). Cho số vô tỷ \displaystyle \alpha. Khi đó có vô hạn phân số tối giản \displaystyle \frac{a}{q} sao cho

\displaystyle \left|\alpha-\frac{a}{q}\right|<\frac{1}{\sqrt{5}q^2}. Hơn nữa ta có thể chọn \displaystyle q lớn tùy ý. Với số thực \displaystyle A>\sqrt{5}, chỉ có hữu hạn phân số tối giản \displaystyle \dfrac{a}{q} sao cho

\displaystyle \left|\alpha-\frac{a}{q}\right|<\frac{1}{Aq^2}, ở đây \displaystyle \alpha=\dfrac{\sqrt{5}-1}{2}.

Chứng minh. Không mất tính tổng quát ta giả sử \displaystyle 0<\alpha<1. Xét một số nguyên dương \displaystyle n bất kỳ. Số \displaystyle \alpha sẽ nằm giữa hai phần số liên tiếp \displaystyle a/b<c/d của \displaystyle F_n. Ta chỉ cần chứng minh một trong ba phân số \displaystyle \frac{a}{b}, \displaystyle \frac{c}{d}, và \displaystyle \frac{a+c}{b+d} thỏa mãn bất đẳng thức trong định lý, phần sau sẽ làm như trong chứng minh định lý 4. Giả sử \displaystyle \frac{a}{b}<\frac{a+c}{b+d}<\alpha<\frac{c}{d} và cả ba phân số đều không thỏa mãn bất đẳng thức trong định lý, nghĩa là

\displaystyle \alpha-\frac{a}{b}\geq \frac{1}{\sqrt{5}b^2},\quad\alpha-\frac{a+c}{b+d}\geq\frac{1}{\sqrt{5}(b+d)^2},\quad \frac{c}{d}-\alpha\geq\frac{1}{\sqrt{5}d^2}. Cộng theo vế bất đẳng thức thứ nhất với thứ ba, thứ hai với thứ ba ta được \displaystyle \frac{\sqrt{5}}{bd}\geq\frac{1}{b^2}+\frac{1}{d^2},\quad \frac{\sqrt{5}}{d(b+d)}\geq \frac{1}{(b+d)^2}+\frac{1}{d^2}. Đặt \displaystyle b/d=t, từ trên ta có một hệ bất phương trình bậc hai ẩn \displaystyle t, giải hệ này ta có \displaystyle t=\dfrac{\sqrt{5}-1}{2}\not\in\mathbb{Q}, vô lí.

Với phần thứ hai, giả sử bất đẳng thức đúng với vô hạn phân số \displaystyle a/q. Vì mỗi \displaystyle q chỉ có nhiều nhất hai giá trị \displaystyle a làm cho bất đẳng thức đó đúng nên \displaystyle q chạy trên một tập vô hạn. Viết lại bất đẳng thức trong định lý dưới dạng

\displaystyle \frac{q\sqrt{5}}{2}-\frac{1}{Aq}<\frac{q}{2}+a<\frac{q\sqrt{5}}{2}+\frac{1}{Aq}, bình phương ta có \displaystyle \frac{1}{A^2q^2}-\frac{\sqrt{5}}{A}<a^2+aq-q^2<\frac{1}{A^2q^2}+\frac{\sqrt{5}}{A}.\displaystyle A>\sqrt{5} nên ta có thể chọn \displaystyle q đủ lớn để

\displaystyle -1<\frac{1}{A^2q^2}-\frac{\sqrt{5}}{A}<a^2+aq-q^2<\frac{1}{A^2q^2}+\frac{\sqrt{5}}{A}<1, với q này thì a^2+aq-q^2=0, vô lý. \Box

Đọc thêm

[1] https://nttuan.org/2007/12/15/pell-equation/