The degree of a vertex


Bài này là phần tiếp theo của bài https://nttuan.org/2023/09/01/graph02/


Cho đồ thị \displaystyle G=(V,E). Bậc của một đỉnh \displaystyle v\in G, ký hiệu \displaystyle \deg_G(v) hoặc \displaystyle \deg (v), là số đỉnh của \displaystyle G kề với \displaystyle v.  Đỉnh có bậc bằng \displaystyle 0 được gọi là đỉnh cô lập. Đỉnh có bậc bằng 1 được gọi là lá. Nếu mọi đỉnh của \displaystyle G đều có bậc \displaystyle k thì ta nói \displaystyle G\displaystyle k-đều.

Định lý 1. Trong mỗi đồ thị có cấp lớn hơn \displaystyle 1, tồn tại ít nhất hai đỉnh có cùng bậc.

Chứng minh. Gọi \displaystyle n là cấp của đồ thị. Bậc của mỗi đỉnh của đồ thị là một số tự nhiên bé hơn \displaystyle n. Vì vậy, nếu các đỉnh của đồ thị có bậc đôi một khác nhau thì có đỉnh cô lập và có đỉnh kề với mọi đỉnh khác, vô lý. \Box

Định lý 2. Với mỗi đồ thị \displaystyle G=(V,E), ta có

\displaystyle \displaystyle \sum_{v\in V}\deg (v)=2\mid E\mid.

Chứng minh. Khi ta cộng tất cả bậc của các đỉnh, ta đã đếm mỗi cạnh đúng hai lần, một cho mỗi đầu mút của nó. \Box

Hệ quả. Số đỉnh bậc lẻ trong một đồ thị là số chẵn.

Ví dụ 1. Có đồ thị với dãy bậc của đỉnh như sau hay không?

(a) \displaystyle 3,2,2,2.

(b) \displaystyle 3,3,2,2.

(c) 4,4,1,1,1,1.

Hướng dẫn. Ý đầu là không vì tổng bậc phải chẵn, ý thứ hai là có. Ý thứ ba là không, vì nếu có thì khi xét hai đỉnh bậc \displaystyle 4, có ít nhất \displaystyle 6 cạnh đến các đỉnh bậc \displaystyle 1, vô lý. \Box

Vào năm 1960, Paul Erdos và Tibor Gallai đã tìm được kết quả sau:

Định lý 3 (Erdos-Gallai). Dãy số nguyên không âm \displaystyle d_1\geq d_2\geq\ldots \geq d_n là dãy bậc của một đồ thị trên \displaystyle n đỉnh khi và chỉ khi \displaystyle \sum d_i chẵn và

\displaystyle \sum_{i=1}^kd_i\leq k(k-1)+\sum_{i=k+1}^n\min\{d_i,k\},\quad \forall k=\overline{1,n}.

Ví dụ 2. Cho một tập hợp \displaystyle S gồm \displaystyle 100 điểm trong mặt phẳng sao cho khoảng cách giữa hai điểm bất kỳ trong \displaystyle S không bé hơn \displaystyle 1. Chứng minh rằng có không nhiều hơn \displaystyle 300 cặp điểm (không kể thứ tự) mà khoảng cách giữa hai điểm trong mỗi cặp bằng \displaystyle 1.

Hướng dẫn. Xét đồ thị \displaystyle G trên \displaystyle S được xác định như sau: Tập con \displaystyle \{A,B\} của \displaystyle S là một cạnh của \displaystyle G khi và chỉ khi \displaystyle AB=1.\displaystyle \deg (v)\leq 6 với mọi \displaystyle v\in S, nên \displaystyle \mid E(G)\mid \leq 1/2\times 6\times 100=300. \Box

Ví dụ 3. Cho một lớp học có số học sinh là số chẵn. Chứng minh rằng tồn tại hai học sinh trong lớp có số người quen chung trong lớp là số chẵn.

Lời giải. Xét đồ thị \displaystyle G trên tập hợp \displaystyle V các học sinh trong lớp được xác định như sau: với hai đỉnh \displaystyle a\displaystyle b của \displaystyle G, có một cạnh nối \displaystyle a\displaystyle b khi \displaystyle a\displaystyle b quen nhau. Giả sử ngược lại rằng với mỗi \displaystyle a\displaystyle b phân biệt thuộc \displaystyle V, \displaystyle \mid N(a)\cap N(b)\mid là số lẻ. Nói riêng, mỗi hai đỉnh có ít nhất một láng giềng chung.

Nhận xét. Mọi đỉnh của \displaystyle G đều có bậc chẵn.

Chứng minh. Xét một đỉnh \displaystyle x bất kỳ và xem \displaystyle N(x) như đồ thị con cảm sinh của \displaystyle G. Ta thấy \displaystyle \sum_{y\in N(x)}\deg_{N(x)}(y) là số chẵn và mỗi số hạng là lẻ, suy ra \mid N(x)\mid là số chẵn. \Box

Bây giờ cố định một đỉnh \displaystyle x bất kỳ của \displaystyle G. Đặt \displaystyle X=V\setminus (N(x)\cup \{x\}). Khi đó \displaystyle X có số phần tử lẻ. Ta quan tâm đến số \displaystyle \alpha các cạnh có một đầu mút thuộc \displaystyle X đầu mút kia thuộc \displaystyle N(x) theo hai cách. Nếu chọn đầu mút thuộc \displaystyle X trước thì ta thấy \displaystyle \alpha là số lẻ, trong khi nếu chọn đầu mút thuộc \displaystyle N(x) trước thì ta thấy \displaystyle \alpha là số chẵn (theo nhận xét), vô lý. \Box

Continue reading “The degree of a vertex”

Probability space


Các bạn đọc lại bài https://nttuan.org/2024/01/24/naive-definition-of-probability/ để theo dõi bài cho dễ dàng.


Một họ \mathcal{G} các tập con của một tập hợp \Omega được gọi là một đại số các tập con của \Omega nếu nó có ba tính chất sau:

(1) \Omega\in\mathcal{G}.

(2) Nếu C\in \mathcal{G} thì \Omega\setminus C\in\mathcal{G}.

(3) Nếu C_1,C_2,\ldots,C_n\in\mathcal{G} thì \displaystyle \bigcup_{i=1}^nC_i\in\mathcal{G}.

Ví dụ 1. Với tập hợp \displaystyle \Omega, ta có họ \displaystyle \mathcal{G}=\{\emptyset,\Omega\} là một đại số các tập con của \displaystyle \Omega. \Box

Bổ đề 1. Cho \displaystyle \mathcal{G} là một đại số các tập con của \displaystyle \Omega. Khi đó

(1) \displaystyle \emptyset\in\mathcal{G}.

(2) Nếu \displaystyle C_1,C_2,\ldots,C_n\in\mathcal{G} thì \displaystyle \bigcap_{i=1}^nC_i\in\mathcal{G}.

 (3) Nếu \displaystyle C_1,C_2\in\mathcal{G} thì C_1\setminus C_2\in\mathcal{G}.

Chứng minh.\displaystyle \Omega\in\mathcal{G} nên \displaystyle \emptyset=\Omega\setminus\Omega cũng thuộc \displaystyle \mathcal{G}. Nếu \displaystyle C_1, \displaystyle C_2, \displaystyle \ldots, \displaystyle C_n\in\mathcal{G} thì

\displaystyle \Omega\setminus \bigcap_{i=1}^nC_i=\bigcup_{i=1}^n(\Omega\setminus C_i)\in\mathcal{G},

suy ra \displaystyle \bigcap_{i=1}^nC_i\in\mathcal{G}. Cuối cùng, nếu \displaystyle C_1, \displaystyle C_2\in\mathcal{G} thì \displaystyle C_1\setminus C_2=\Omega\setminus ((\Omega\setminus C_1)\cup C_2)\in\mathcal{G}. \Box

Định nghĩa 1. Một họ \displaystyle \mathcal{G} các tập con của một tập hợp \displaystyle \Omega được gọi là một \displaystyle \sigma-đại số các tập con của \displaystyle \Omega nếu nó có ba tính chất sau:

(1) \displaystyle \Omega\in\mathcal{G}.

(2) Nếu \displaystyle C\in \mathcal{G} thì \displaystyle \Omega\setminus C\in\mathcal{G}.

(3) Nếu \displaystyle C_1,C_2,\ldots\in\mathcal{G} thì \displaystyle \bigcup_{i=1}^{\infty}C_i\in\mathcal{G}.

Lúc này ta gọi \displaystyle \Omega là không gian mẫu và các phần tử của \displaystyle \mathcal{G} là các biến cố, hay sự kiện. 

Mỗi \displaystyle \sigma-đại số là một đại số, ngược lại không đúng.

Ví dụ 2. \displaystyle \sigma-đại số nhỏ nhất các tập con của \displaystyle \Omega\displaystyle \{\emptyset,\Omega\}. \Box

Ví dụ 3. Nếu \displaystyle A là một tập con của \displaystyle \Omega thì \displaystyle \{\emptyset,\Omega,A,\overline{A}\} là một \displaystyle \sigma-đại số các tập con của \displaystyle \Omega. \Box

Ví dụ 4. Họ tất cả các tập con của \displaystyle \Omega\displaystyle \sigma-đại số lớn nhất các tập con của \displaystyle \Omega. \Box

Định nghĩa 2. Một không gian đo được là một cặp \displaystyle (\Omega,\mathcal{F}), trong đó \displaystyle \Omega là một tập hợp và \displaystyle \mathcal F là một \displaystyle \sigma-đại số các tập con của \displaystyle \Omega. Khi \displaystyle \Omega là hữu hạn hoặc đếm được thì không gian đo được \displaystyle (\Omega,\mathcal{F}) được gọi là rời rạc.

Mỗi khi xét không gian đo được rời rạc (\Omega,\mathcal{F}), ta chỉ xét \mathcal F\sigma-đại số tất cả các tập con của \Omega.

Định nghĩa 3. Cho một không gian đo được \displaystyle (\Omega,\mathcal{F}). Độ đo xác suất \displaystyle \mathbb{P} trên \displaystyle (\Omega,\mathcal{F}) là một hàm \displaystyle \mathbb{P}:\mathcal{F}\to [0;1] thỏa mãn đồng thời hai điều sau:

(1) \displaystyle \mathbb{P}(\emptyset)=0\mathbb{P}(\Omega)=1.

(2) Nếu \displaystyle A_1,A_2,\ldots là một dãy các phần tử đôi một rời nhau của \displaystyle \mathcal F thì \displaystyle \mathbb{P}\left(\bigcup_{i=1}^{\infty}A_i\right)=\sum_{i=1}^{\infty}\mathbb{P}(A_i).

Lúc này thì bộ ba \displaystyle (\Omega,\mathcal{F},\mathbb{P}) được gọi là không gian xác suất. Với mỗi sự kiện \displaystyle A, ta gọi \displaystyle \mathbb{P}(A) là xác suất của \displaystyle A.

Với không gian xác suất \displaystyle (\Omega,\mathcal{F},\mathbb{P}) và biến cố \displaystyle A, ta gọi \displaystyle A là biến cố rỗng nếu \displaystyle \mathbb{P}(A)=0 và là biến cố chắc chắn nếu \displaystyle \mathbb{P}(A)=1. Ta có thể xác định một không gian xác suất tương ứng với mỗi phép thử. Khi đó các bài toán liên quan đến phép thử sẽ chuyển về các bài toán trong không gian xác suất tương ứng.

Ví dụ 5. Một đồng xu, có thể không cân, được tung lên một lần. Với phép thử này ta xác định không gian xác suất \displaystyle (\Omega,\mathcal{F},\mathbb{P}) như sau: Không gian mẫu \displaystyle \Omega=\{0;1\} (như trong bài trước, sấp được ghi là \displaystyle 1 và ngửa được ghi là \displaystyle 0), \displaystyle \mathcal{F} là họ tất cả các tập con của \displaystyle \Omega, và độ đo xác suất \displaystyle \mathbb{P}:\mathcal{F}\to [0;1] được định nghĩa bởi

 \displaystyle\mathbb{P}(\emptyset)=0,\,\mathbb{P}(\Omega)=1,\,\mathbb{P}(\{1\})=p,\,\mathbb{P}(\{0\})=1-p.

Ở đây \displaystyle p là một số thực thuộc đoạn \displaystyle [0;1]. Đồng xu này là cân đối nếu \displaystyle p=1/2. \Box

Ví dụ 6. Một con xúc xắc được tung một lần. Với phép thử này ta xác định không gian xác suất \displaystyle (\Omega,\mathcal{F},\mathbb{P}) như sau: Không gian mẫu \displaystyle \Omega=[6], \mathcal{F} là họ tất cả các tập con của \displaystyle \Omega, và độ đo xác suất \displaystyle \mathbb{P}:\mathcal{F}\to [0;1] được định nghĩa bởi

 \displaystyle \mathbb{P}(A)=\sum_{i\in A}p_i, \quad \forall A\subset \Omega.

Ở đây \displaystyle p_1,p_1,\ldots,p_6 là các số thực không âm có tổng bằng \displaystyle 1. Xác suất để xuất hiện mặt có \displaystyle i chấm là \displaystyle p_i. Con xúc xắc này là cân đối nếu các \displaystyle p_i đều bằng \displaystyle 1/6. Khi đó \displaystyle \mathbb{P}(A)=\frac{\mid A\mid }{6}, \quad \forall A\subset \Omega, bằng xác suất xảy ra \displaystyle A theo định nghĩa ngây thơ (cổ điển) của xác suất. \Box

Sau đây là một số tính chất của độ đo xác suất.

Bổ đề 2. Cho một không gian xác suất \displaystyle (\Omega,\mathcal{F},\mathbb{P}). Khi đó

(1) Với mỗi biến cố A, ta có \displaystyle \mathbb{P}(\overline{A})=1-\mathbb{P}({A}).

(2) Nếu \displaystyle A\displaystyle B là các biến cố thỏa mãn \displaystyle A\subset B thì \displaystyle \mathbb{P}({B})=\mathbb{P}({A})+\mathbb{P}({B\setminus A})\geq \mathbb{P}({A}).

(3) Nếu \displaystyle A_1,A_2,\ldots,A_n\displaystyle n>1 biến cố thì

 \displaystyle \mathbb{P}\left(\bigcup_{i=1}^nA_i\right)=\sum_{i=1}^n\mathbb{P}({A_i})-\sum_{i<j}\mathbb{P}({A_i\cap A_j})+\sum_{i<j<k}\mathbb{P}({A_i\cap A_j\cap A_k}) \displaystyle -\ldots +(-1)^{n+1}\mathbb{P}(A_1\cap A_2\cap \ldots \cap A_n).

Chứng minh. Xét một biến cố \displaystyle A. Vì \displaystyle\Omega=A\cup\overline{A}\displaystyle A\cap\overline{A}=\emptyset nên

\displaystyle 1=\mathbb{P}(\Omega)=\mathbb{P}(A\cup\overline{A})=\mathbb{P}({A})+\mathbb{P}\overline{A}),

suy ra \displaystyle \mathbb{P}(\overline{A})=1-\mathbb{P}({A}). Bây giờ xét hai biến cố \displaystyle A\displaystyle B với \displaystyle A\subset B. Vì biến cố \displaystyle B là hợp của hai biến cố rời nhau \displaystyle A\displaystyle B\setminus A nên

 \displaystyle\mathbb{P}({B})=\mathbb{P}({A})+\mathbb{P}({B\setminus A})\geq \mathbb{P}({A}).

Ta sẽ chứng minh khẳng định cuối cùng bằng quy nạp theo \displaystyle n. Xét hai biến cố \displaystyle A\displaystyle B. Biến cố \displaystyle A\cup B là hợp của hai biến cố rời nhau \displaystyle A\displaystyle B\setminus A nên

\displaystyle\mathbb{P}(A\cup {B}) =\mathbb{P}({A})+\mathbb{P}({B\setminus A})=  \mathbb{P}({A})+\mathbb{P}({B\setminus (A\cap B)})=\mathbb{P}({A})+\mathbb{P}({B})-\mathbb{P}(A\cap B),

suy ra khẳng định đúng với \displaystyle n=2. Bây giờ giả sử khẳng định đúng với số nguyên dương \displaystyle n= k\, (k>1). Xét \displaystyle k+1 biến cố \displaystyle A_1, \displaystyle A_2,\ldots, \displaystyle A_{k+1}. Vì khẳng định đúng với \displaystyle n=2 nên

\displaystyle \mathbb{P}\left(\bigcup_{i=1}^{k+1}A_i\right)=\mathbb{P}\left(\left(\bigcup_{i=1}^{k}A_i\right)\bigcup A_{k+1}\right)

\displaystyle =\mathbb{P}\left(\bigcup_{i=1}^{k}A_i\right)+\mathbb{P}\left(A_{k+1}\right)-\mathbb{P}\left(\left(\bigcup_{i=1}^{k}A_i\right)\bigcap A_{k+1}\right)

\displaystyle =\mathbb{P}\left(\bigcup_{i=1}^{k}A_i\right)+\mathbb{P}\left(A_{k+1}\right)-\mathbb{P}\left(\bigcup_{i=1}^{k}\left(A_i\bigcap A_{k+1}\right)\right).

Đến đây dùng giả thiết quy nạp ta thấy khẳng định đúng với \displaystyle n=k+1. Theo nguyên lý quy nạp toán học, khẳng định đúng với mỗi số nguyên \displaystyle n>1. \Box

Từ chứng minh trên, bằng quy nạp theo n, ta thu được \displaystyle \mathbb{P}\left(\bigcup_{i=1}^nA_i\right)\leq\sum_{i=1}^n\mathbb{P}(A_i).

Continue reading “Probability space”

Naive definition of probability


Phép thử ngẫu nhiên, hay phép thử, là một thí nghiệm hay một hành động mà kết quả của nó không thể biết được trước khi phép thử được thực hiện, và khả năng xảy ra của các kết quả là như nhau. Không gian mẫu của phép thử là tập hợp tất cả các kết quả có thể xảy ra khi thực hiện phép thử. Kết quả thuận lợi cho một biến cố (sự kiện) \displaystyle E liên quan đến phép thử \displaystyle T là kết quả của phép thử \displaystyle T làm cho biến cố \displaystyle E xảy ra. Trong bài này ta chỉ xét các phép thử mà không gian mẫu là một tập hợp hữu hạn.

Ví dụ 1. Tung một đồng xu, ta thấy có thể xảy ra một trong hai kết quả sấp (\displaystyle S) hoặc ngửa (\displaystyle N). Phép thử ngẫu nhiên ở đây là tung một đồng xu, không gian mẫu của phép thử là tập hợp \displaystyle \Omega =\{S, N\}. Ta có thể để ý xem các biến cố sau có xảy ra không?

kết quả của phép thử là \displaystyle N.

kết quả của phép thử không là \displaystyle N.

kết quả của phép thử là \displaystyle S hoặc \displaystyle N.

kết quả của phép thử là \displaystyle S\displaystyle N. \Box

Ví dụ 2. Xét phép thử ngẫu nhiên: tung một đồng xu bốn lần. Ta thấy một kết quả là \displaystyle SNNS, và không gian mẫu của phép thử là tập hợp tất cả các dãy gồm \displaystyle 4 chữ cái thuộc \displaystyle \{S,N\}. Chúng ta có thể mã hóa \displaystyle S\displaystyle 1\displaystyle N\displaystyle 0, khi đó mỗi kết quả của phép thử là một dãy \displaystyle (s_1,s_2,s_3,s_4) với các \displaystyle s_j\in\{0;1\} và không gian mẫu của phép thử là tập tất cả các dãy như vậy.

Gọi \displaystyle E_i là sự kiện lần tung thứ \displaystyle i ra mặt ngửa. Tập các kết quả thuận lợi cho \displaystyle E_1, cũng được ký hiệu bởi \displaystyle E_1, là

\displaystyle E_1=\{(0,s_2,s_3,s_4)\mid s_j\in \{0;1\},\quad\forall j\}. Đây là một tập con của không gian mẫu.

Nếu \displaystyle A là biến cố ít nhất một mặt là ngửa thì tập các kết quả thuận lợi cho \displaystyle A, cũng được ký hiệu bởi \displaystyle A, là \displaystyle A=E_1\cup E_2\cup E_3\cup  E_4. Nếu \displaystyle B là biến cố tất cả bốn lần tung đều hiện mặt ngửa thì tập các kết quả thuận lợi cho \displaystyle B\displaystyle B=E_1\cap E_2\cap E_3\cap E_4. \Box

Ví dụ 3. Xét phép thử ngẫu nhiên: Chọn một quân bài từ \displaystyle 52 quân bài. Không gian mẫu \displaystyle \Omega của phép thử là tập tất cả \displaystyle 52 quân bài. Ta quan tâm đến bốn biến cố sau:

\displaystyle A: Quân bài là một con Át.

\displaystyle B: Quân bài có màu đen.

\displaystyle C: Quân bài có chất Rô.

\displaystyle D: Quân bài có chất Cơ.

Như một tập hợp \displaystyle D= {Át cơ, 2 cơ , 3 cơ,…, K cơ}. Ta có thể tạo ra nhiều biến cố từ bốn biến cố này.

\displaystyle A\cap B là biến cố quân bài rút ra là quân Át màu đen.

\displaystyle A\cup C là biến cố quân bài rút ra là quân Át hoặc có chất Rô.

\displaystyle A\cup C\cup D là sự kiện quân bài rút ra là quân Át hoặc có màu đỏ. \Box

Định nghĩa (Định nghĩa ngây thơ của xác suất). Cho \displaystyle A là một biến cố (sự kiện) của một phép thử ngẫu nhiên với không gian mẫu hữu hạn \displaystyle \Omega. Khi đó xác suất của \displaystyle A, hay xác suất xảy ra \displaystyle A, là \displaystyle \mathbb{P}(A)=\frac{\mid A\mid }{\mid \Omega\mid}.

Theo định nghĩa thì \displaystyle 0\leq \mathbb{P}(A)\leq 1, với mọi sự kiện \displaystyle A. Dấu bằng trong bất đẳng thức thứ nhất xảy ra khi và chỉ khi \displaystyle A=\emptyset, lúc này ta gọi \displaystyle A là biến cố rỗng hay biến cố không thể. Dấu bằng trong bất đẳng thức thứ hai xảy ra khi và chỉ khi \displaystyle A=\Omega, lúc này ta gọi \displaystyle A là biến cố chắc chắn. Để tính xác suất của biến cố \displaystyle A, ta cần tính số phần tử của không gian mẫu và số phần tử của \displaystyle A (như một tập hợp).

Ví dụ 4. Tung hai con xúc xắc cân đối. Tính xác suất để tổng hai mặt bằng \displaystyle 10.

Lời giải. Không gian mẫu \displaystyle \Omega là tập tất cả các cặp \displaystyle (a,b) với \displaystyle a\displaystyle b thuộc \displaystyle \{1,2,\ldots,6\}. Tập các kết quả thuận lợi cho biến cố tổng hai mặt bằng \displaystyle 10\displaystyle \{(5,5),(6,4),(4,6)\}, suy ra xác suất cần tính bằng \displaystyle 3/36=1/12\approx 0.0833. \Box

Ví dụ 5. Một ván bài \displaystyle 5 lá được chia từ một bộ bài \displaystyle 52 lá tiêu chuẩn, được xáo trộn kỹ lưỡng. Ván bài được gọi là cù lũ trong poker nếu nó bao gồm ba lá bài ở cấp độ nào đó và hai lá bài ở cấp độ khác, ví dụ: ba lá bài \displaystyle 7 và hai lá bài \displaystyle 10 (theo bất kỳ thứ tự nào). Xác suất để có một cù lũ bằng bao nhiêu?

Lời giải. Không gian mẫu là họ tất cả các tập con gồm \displaystyle 5 lá bài trong bộ bài đã cho. Ta có ngay \displaystyle \mid \Omega \mid =C_{52}^5. Có \displaystyle 13\times 12 cách chọn lần lượt hạng của bộ ba và đôi trong một cù lũ. Sau đó, có \displaystyle C_4^3\times C_4^2 cách chọn lần lượt một bộ ba và một đôi trong các hạng đã chọn trước đó. Suy ra xác suất cần tính bằng \displaystyle \frac{13\times 12\times C_4^3\times C_4^2}{C_{52}^5}=\frac{3744}{2598960}\approx 0.0014. \Box

Continue reading “Naive definition of probability”

Vietnam TST 2023/6


Trong bài này tôi giới thiệu một lời giải của bài 6 trong đề thi chọn đội tuyển IMO 2023. Đây là lời giải của tác giả bài toán, không phải lời giải của tôi. Nếu có chỗ sai trong lời giải dưới đây thì đó là lỗi của tôi.

Với mỗi số nguyên dương m, ký hiệu [m] là tập gồm m số nguyên dương đầu tiên.

Bài toán (Vietnam TST 2023/6). Cho số nguyên n>2. Xác định số k_n lớn nhất sao cho với mỗi họ k_n tập con có 3 phần tử của [n], luôn tô màu được các phần tử của [n] bởi hai màu để không có tập con nào trong họ có ba phần tử cùng màu.

Lời giải. Với n=3n=4 thì k_n=C_n^3, bởi vì ta có thể tô 2 phần tử của [n] xanh và n-2 \leq 2 phần tử còn lại màu đỏ và không có tập con ba phần tử cùng màu nào cả.

Với n \geq 5 thì k_n \leq 9, bởi vì với 10 tập con có 3 phần tử của [5] thì với mọi cách tô màu các phần tử [5] bởi 2 màu luôn có 3 phần tử cùng màu. Với n=5 thì k_5=9, vì với 9 tập con 3 phần tử tùy ý luôn có 1 tập con 3 phần tử không được chọn, ta có thể tô màu 3 phần tử này màu xanh và 2 phần tử còn lại màu đỏ, cách tô màu này thỏa mãn bài toán. Với n=6, ta cũng có k_6=9, vì ta có thể chia 20 tập con 3 phần tử của [6] thành 10 cặp, mỗi cặp là 2 tập con bù nhau. Với 9 tập con 3 phần tử tùy ý của [6], luôn có 1 cặp (A, B)A, B không được chọn, ta tô 3 phần tử của A xanh, 3 phần tử của B đỏ và cách tô màu này thỏa mãn bài toán.

Mệnh đề 1. Với n\geq 7 thì k_n \leq 6.

Chứng minh. Tồn tại 7 tập con có 3 phần tử của [7] đôi một chung nhau không quá 1 phần tử. Thật vậy, biểu diễn 1, 2, \ldots, 77 đỉnh một 7-giác đều. Chọn B_1=\{1,2,4\}B_i là ảnh của B_1 quanh tâm đa giác với góc \frac{2 \pi}{7} \times(i-1). Rõ ràng các B_i (như một tam giác) đôi một không có cạnh chung.

Giả sử tô màu được các phần tử của [7] bởi 2 màu sao cho không có B_i nào có các phần tử cùng màu. Khi đó mỗi B_i có đúng 2 cạnh mà 2 đỉnh của chúng khác màu. Suy ra ta có một đồ thị lưỡng phân G[X,Y], với X là tập các phần tử xanh và Y là tập các phần tử đỏ, có 14 cạnh. Điều này không thể xảy ra vì \mid X\mid +\mid Y\mid =7. \Box

Mệnh đề 2. Với n \geq 5 thì k_n \geq 6.

Chứng minh. Ta chứng minh bằng qui nạp theo n. Theo phần trình bày ở trên thì mệnh đề đúng với n=5n=6. Với n \geq 7, ta xét một họ gồm 6 tập con có 3 phần tử của [n]. Tồn tại hai phần tử ab của [n] sao cho chúng không cùng thuộc một tập của họ này, vì C_7^2=21>6 \times C_3^2=18. Bỏ a, b và thêm c vào [n], ta có một cách tô màu thỏa mãn bài toán theo giả thiết quy nạp. Bỏ c và cho lại a, b về tập [n], sau đó tô màu ab bởi màu của c, ta có cách tô màu thỏa mãn bài toán. \Box

Từ mệnh đề 1 và mệnh đề 2, ta có k_n=6 khi n \geq 7. \Box