Absolute convergence


Cho \displaystyle (u_n)_{n\geq 1} là một dãy các số thực. Chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}u_n được gọi là hội tụ tuyệt đối nếu chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}\mid u_n\mid hội tụ. Chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}u_n được gọi là hội tụ có điều kiện nếu nó hội tụ nhưng không hội tụ tuyệt đối. Trong bài trước (xem [1]) ta đã biết chuỗi điều hòa thay phiên là một chuỗi hội tụ có điều kiện. Theo tiêu chuẩn Cauchy, mọi chuỗi hội tụ tuyệt đối đều là chuỗi hội tụ.

Khi làm việc với các chuỗi hội tụ, ta thường muốn việc nhóm vài số hạng liên tiếp hay sắp xếp lại các số hạng sẽ không ảnh hưởng đến sự hội tụ hoặc tổng của chuỗi. Không khó khăn lắm để thấy rằng việc nhóm các số hạng liên tiếp tạo ra một chuỗi hội tụ có tổng bằng tổng của chuỗi ban đầu. Ta có kết quả quan trọng sau liên quan đến sắp xếp các số hạng của chuỗi.

Định lý 1. Cho \displaystyle (u_n)_{n\geq 1} là một dãy các số thực sao cho chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}u_n hội tụ tuyệt đối. Khi đó với mọi song ánh \displaystyle\sigma :\mathbb{N}^*\to\mathbb{N}^*, chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}u_{\sigma (n)} hội tụ và tổng của nó bằng tổng của chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}u_n.

Chứng minh. Gọi \displaystyle S là tổng của chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}u_n, và \displaystyle\epsilon là một số thực dương bất kỳ. Khi đó tồn tại số nguyên dương \displaystyle m đủ lớn sao cho \displaystyle \mid S_m-S\mid<\epsilon/2

\displaystyle\sum_{k=m+1}^{+\infty}\mid u_k\mid <\epsilon/2,

trong đó \displaystyle (S_n)_{n\geq 1} là dãy các tổng riêng của chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}u_n.

Xét một song ánh \displaystyle\sigma :\mathbb{N}^*\to\mathbb{N}^*. Gọi \displaystyle (T_n)_{n\geq 1} là dãy các tổng riêng của chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty} u_{\sigma (n)}, và \displaystyle N là một số nguyên dương sao cho các số \displaystyle 1, \displaystyle 2, \displaystyle \ldots, \displaystyle m đều thuộc tập hợp \displaystyle\{\sigma (1),\sigma (2),\ldots,\sigma (N)\}. Với số nguyên \displaystyle n>N, ta có

\displaystyle \mid T_n-S\mid\leq \mid T_n-S_m\mid +\mid S_m-S\mid

\displaystyle\leq \sum_{k=m+1}^{+\infty}\mid u_k\mid +\mid S_m-S\mid<\epsilon/2+\epsilon/2=\epsilon.

Suy ra \displaystyle T_n\to S và ta có điều phải chứng minh. \Box

Bây giờ giả sử \displaystyle (u_n)_{n\geq 1} là một dãy các số thực sao cho chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}u_n hội tụ có điều kiện. Ta thấy có vô hạn số hạng của dãy là số dương, và có vô hạn số hạng của dãy là số âm. Gọi \displaystyle (d_i)_{i\geq 1}(a_i)_{i\geq 1} lần lượt là dãy con tất cả các số hạng không âm và dãy con tất cả các số hạng âm của dãy \displaystyle (u_n)_{n\geq 1}. Hai chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}d_n\displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}a_n đều phân kỳ. Cố định một số thực \displaystyle \alpha. Lấy ra khỏi \displaystyle (d_i) một vài số hạng đầu có tổng lớn hơn \displaystyle\alpha, sau đó lấy ra khỏi \displaystyle (a_i) một vài số hạng đầu để tổng các số được chọn (gồm cả những số được chọn từ \displaystyle (d_i)) nhỏ hơn \displaystyle \alpha. Tiếp theo, trong dãy \displaystyle (d_i) còn lại, lấy vài số hạng đầu để tổng các số được lấy (gồm cả những số được chọn từ các bước trước) lớn hơn \displaystyle\alpha, sau đó trong dãy \displaystyle (a_i) còn lại, lấy một vài số hạng đầu để tổng các số được lấy (gồm cả những số được chọn từ các bước trước) nhỏ hơn \displaystyle \alpha. Cứ tiếp tục như vậy ta có một chuỗi có tổng bằng \displaystyle\alpha. Ta đã mô tả chứng minh của kết quả sau, chi tiết có trong [2].

Định lý 2 (Định lý chuỗi Riemann). Cho \displaystyle (u_n)_{n\geq 1} là một dãy các số thực sao cho chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}u_n hội tụ có điều kiện. Khi đó với mỗi số thực \displaystyle\alpha, có song ánh \displaystyle \sigma :\mathbb{N}^*\to\mathbb{N}^* sao cho chuỗi \displaystyle \sum_{n=1}^{+\infty}u_{\sigma (n)} hội tụ và tổng của nó bằng \displaystyle \alpha.

Tài liệu tham khảo

[1] https://nttuan.org/2018/12/30/series/

[2] Walter Rudin. Principles of Mathematical Analysis. McGraw Hill, 1976.

Lagrange interpolating polynomial


Đây là bài thứ bốn về đa thức của tôi, các bạn học sinh nên xem lại ba bài trước để học cho dễ dàng hơn.

[1] https://nttuan.org/2007/10/26/poly01/

[2] https://nttuan.org/2009/01/11/poly02/

[3] https://nttuan.org/2018/08/25/poly03/

Đa thức có thể được sử dụng để xấp xỉ các đường cong phức tạp, hay tính giá trị của các hàm logarit và lượng giác. Đầu tiên, chọn một vài dữ liệu đã biết, sau đó tìm một đa thức có bậc đủ bé có cùng dữ liệu đã chọn, cuối cùng xem đa thức vừa tìm được như là hàm số đang xét. Điều này dẫn đến việc tính toán nhanh hơn đáng kể.

Định lí. Cho số nguyên dương nn+1 số phức đôi một khác nhau x_0, x_1, \ldots, x_{n}. Khi đó với mỗi n+1 số phức y_0, y_1, \ldots, y_n, có đúng một đa thức P(x) với hệ số phức có bậc không lớn hơn n sao cho

P(x_i)=y_i,\quad \forall i=\overline{0,n}.

Chứng minh. Nếu PQ là các đa thức thỏa mãn các điều kiện của định lí thì đa thức P-Q có bậc không lớn hơn n và có ít nhất n+1 nghiệm, suy ra P-Q là đa thức không và P=Q. Mặt khác, đa thức \displaystyle P(x)=\sum_{i=0}^ny_i\prod_{j\not =i}\frac{x-x_j}{x_i-x_j} thỏa mãn P(x_i)=y_i,\quad \forall i=\overline{0,n}, do đó định lí được chứng minh. \Box

Hệ quả (Công thức nội suy Lagrange). Cho số nguyên dương n và đa thức P(x) với hệ số phức có bậc không lớn hơn n. Khi đó với mỗi n+1 số phức đôi một khác nhau x_0, x_1, \ldots, x_{n}, ta có

\displaystyle P(x)=\sum_{i=0}^nP(x_i)\prod_{j\not =i}\frac{x-x_j}{x_i-x_j}.

Trong công thức trên, n+1 số phức x_0, x_1, \ldots, x_{n} được gọi là các nút nội suy. Ta thường dùng công thức nội suy Lagrange trong tình huống: Biết thông tin của P tại các x_i, cần tìm thông tin của P tại y\not\in \{x_i\}.

Ví dụ 1. Cho hai đa thức A(x)=x^{81}+x^{49}+x^{25}+x^9+xB(x)=x^3-x. Tìm dư khi chia A(x) cho B(x).

Lời giải. Giả sử Q(x)R(x) lần lượt là thương và dư trong phép chia A(x) cho B(x). Ta có A(x)=B(x)Q(x)+R(x)\deg R<3.B(0)=B(1)=B(-1)=0 nên R(0)=0, R(1)=5R(-1)=-5, do đó áp dụng công thức nội suy Lagrange cho R với các nút 0;1-1 ta có

\displaystyle R(x)=R(0).\frac{(x-1)(x+1)}{(0-1)(0+1)}+R(1).\frac{(x-0)(x+1)}{(1-0)(1+1)}+R(-1).\frac{(x-0)(x-1)}{(-1-0)(-1-1)}

\displaystyle =\frac{5}{2}x(x+1)-\frac{5}{2}x(x-1)=5x. \Box

Ví dụ 2. Cho số nguyên dương n và đa thức P có bậc n thỏa mãn \displaystyle P(k)=\frac{k}{k+1},\quad \forall k=\overline{0,n}. Tính P(n+1).

Lời giải. Do P có bậc n nên áp dụng công thức nội suy Lagrange cho P với n+1 nút 0, 1, \ldots, n ta có \displaystyle P(x)=\sum_{k=0}^nP(k)\prod_{j\not =k}\frac{x-j}{k-j}

\displaystyle =\sum_{k=0}^n\frac{k}{k+1}\prod_{j\not =k}\frac{x-j}{k-j}=\sum_{k=0}^n\frac{(-1)^{n-k}k}{(k+1)!(n-k)!}\prod_{j\not =k}(x-j),\quad\forall x\in\mathbb{R}. Suy ra

\displaystyle P(n+1)=\sum_{k=0}^n\frac{(-1)^{n-k}k}{(k+1)!(n-k)!}\prod_{j\not =k}(n+1-j)

\displaystyle =\sum_{k=0}^n\frac{(-1)^{n-k}k}{(k+1)!(n-k)!}.\frac{(n+1)!}{n+1-k}

\displaystyle =\frac{1}{n+2}\sum_{k=0}^nk(-1)^{n-k}C^{k+1}_{n+2}=\frac{1}{n+2}\sum_{k=0}^n\left[(k+1)(-1)^{n-k}C_{n+2}^{k+1}+(-1)^{n-k+1}C_{n+2}^{k+1}\right]

\displaystyle =\frac{1}{n+2}\left(\sum_{k=0}^n(-1)^{n-k}(n+2)C_{n+1}^k+\sum_{i=1}^{n+1}(-1)^{n+2-i}C_{n+2}^i\right)=\dfrac{n+1+(-1)^{n+1}}{n+2}. \Box

Ví dụ 3. Cho số nguyên dương n và các số nguyên x_0 > x_1 > \ldots > x_n. Chứng minh rằng một trong các số |F(x_0)|, |F(x_1)|, |F(x_2)|, \ldots, |F(x_n)| lớn hơn hoặc bằng \displaystyle \frac{n!}{2^n}. Trong đó

F(x) = x^n + a_1x^{n-1} + \cdots+ a_n

là một đa thức với hệ số thực.

Lời giải. Giả sử \displaystyle |F(x_i)|<\dfrac{n!}{2^n},\quad \forall i=\overline{0,n}. Áp dụng công thức nội suy Lagrange cho P với n+1 nút x_0, x_1, \cdots, x_n ta có

\displaystyle x^n + a_1x^{n-1} + \cdots+ a_n\equiv \sum_{k=0}^nF(x_k)\prod_{j\not =k}\frac{x-x_j}{x_k-x_j}, để ý đến hệ số của x^n trong hai vế ta có  \displaystyle 1=\left|\sum_{k=0}^n\prod_{j\not =k}\frac{F(x_k)}{x_k-x_j}\right|\leq \sum_{k=0}^n\prod_{j\not =k}\frac{|F(x_k)|}{|x_k-x_j|}< \displaystyle \sum_{k=0}^n\prod_{j\not =k}\frac{\frac{n!}{2^n}}{|x_k-x_j|}\leq \sum_{k=0}^n\prod_{j\not =k}\frac{\frac{n!}{2^n}}{|k-j|}=1, không thể xảy ra điều này. \Box

Ví dụ 4. Chứng minh rằng với mỗi số thực a và với mỗi số nguyên dương n ta có

\displaystyle \sum_{k = 0}^n( - 1)^k\binom{n}{k}(a - k)^n = n!.

Lời giải. Vế trái là đa thức của a nên chỉ cần chứng minh đẳng thức khi a là số nguyên. Sau đây ta chứng minh đẳng thức khi a= 0n\geq 3, hay chứng minh

\displaystyle \sum_{k = 0}^n( - 1)^{n + k}\binom{n}{k}k^n = n!. Theo công thức nội suy Lagrange với các nút 1, 2, \ldots, n ta có \displaystyle x^n - (x - 1)(x - 2)\cdots (x - n) \equiv \sum_{k = 1}^nk^n\cdot\prod_{i\not = k}\dfrac{x - i}{k - i},\quad\forall x\in\mathbb{R}. Nói riêng, khi x = 0 ta có \displaystyle ( - 1)^{n + 1}\cdot n! = \sum_{k = 1}^nk^n\cdot \dfrac{1}{k}\cdot \dfrac{( - 1)^{n - 1}\cdot n!}{(k - 1)!\cdot (n - k)!\cdot ( - 1)^{n - k}}, từ đây thu được điều cần chứng minh. \Box.

Continue reading “Lagrange interpolating polynomial”

Series


Cho \displaystyle (u_n)_{n\geq 1} là một dãy các số thực. Tổng hình thức

\displaystyle u_1+u_2+u_3+\cdots,

ký hiệu \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}u_n, được gọi là một chuỗi. Với mỗi số nguyên dương \displaystyle n, số

\displaystyle S_n:=u_1+u_2+\cdots+u_n=\sum_{i=1}^nu_i

được gọi là tổng riêng thứ \displaystyle n của chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}u_n, và \displaystyle u_n được gọi là số hạng tổng quát của chuỗi. Nếu dãy các tổng riêng \displaystyle (S_n)_{n\geq 1} hội tụ đến \displaystyle S, ta nói chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}u_nchuỗi hội tụ\displaystyle S được gọi là tổng của chuỗi, ký hiệu \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}u_n=S.

Mặc dù \displaystyle S là tổng của chuỗi, nó là giới hạn của dãy các tổng riêng, và nó không được hình thành bởi việc cộng liên tiếp các số hạng của dãy số \displaystyle (u_n)_{n\geq 1}.

Ví dụ 1. Chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}\frac{1}{n(n+1)} là một chuỗi hội tụ và tổng của nó bằng \displaystyle 1. \Box

Ví dụ 2. Chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}\frac{1}{n^2} là một chuỗi hội tụ vì dãy các tổng riêng của chuỗi này là một dãy số tăng và bị chặn trên bởi \displaystyle 2. \Box

Ví dụ 3. Xét chuỗi điều hòa luân phiên \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}\frac{(-1)^{n-1}}{n}. Với mỗi số nguyên dương \displaystyle n, ta có

\displaystyle S_{2n}=\left(\frac{1}{1}-\frac{1}{2}\right)+\left(\frac{1}{3}-\frac{1}{4}\right)+\cdots+\left(\frac{1}{2n-1}-\frac{1}{2n}\right)

\displaystyle S_{2n+1}=\frac{1}{1}-\left(\frac{1}{2}-\frac{1}{3}\right)-\left(\frac{1}{4}-\frac{1}{5}\right)-\cdots-\left(\frac{1}{2n}-\frac{1}{2n+1}\right).

Do đó \displaystyle (S_{2n})_{n\geq 1} là một dãy số tăng còn \displaystyle (S_{2n+1})_{n\geq 1} là một dãy số giảm. Mặt khác, với mỗi số nguyên dương \displaystyle n,

\displaystyle 0<S_{2n}<S_{2n+1}=S_{2n}+\frac{1}{2n+1}<1,

do đó \displaystyle (S_{2n})_{n\geq 1}\displaystyle (S_{2n+1})_{n\geq 1} là hai dãy hội tụ có cùng một giới hạn. Suy ra \displaystyle (S_n)_{n\geq 1} hội tụ, và bởi vậy chuỗi điều hòa luân phiên là chuỗi hội tụ. \Box

Nếu dãy tổng riêng \displaystyle (S_n)_{n\geq 1} phân kỳ, ta nói chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}u_nchuỗi phân kỳ. Vì \displaystyle u_n=S_n-S_{n-1} với mọi \displaystyle n>1, nên ta có kết quả

Định lý 1. Nếu chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}u_n hội tụ thì \displaystyle\lim_{n\to +\infty} u_n=0.

Ví dụ sau chứng tỏ điều kiện \displaystyle u_n\to 0 chỉ là điều kiện cần để chuỗi hội tụ.

Ví dụ 4. Chuỗi điều hòa \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}\frac{1}{n} là chuỗi phân kỳ mặc dù \displaystyle\lim_{n\to +\infty} \frac{1}{n}=0. Thật vậy, giả sử chuỗi hội tụ và \displaystyle S là tổng của nó. Khi đó

\displaystyle S=\left(\frac{1}{1}+\frac{1}{2}\right)+\left(\frac{1}{3}+\frac{1}{4}\right)+\left(\frac{1}{5}+\frac{1}{6}\right)+\cdots

\displaystyle >\left(\frac{1}{2}+\frac{1}{2}\right)+\left(\frac{1}{4}+\frac{1}{4}\right)+\left(\frac{1}{6}+\frac{1}{6}\right)+\cdots

\displaystyle =\frac{1}{1}+\frac{1}{2}+\frac{1}{3}+\cdots.

Suy ra S>S, vô lý. \Box

Áp dụng tiêu chuẩn Cauchy cho dãy các tổng riêng ta có một điều kiện cần và đủ để chuỗi hội tụ.

Định lý 2 (Tiêu chuẩn Cauchy). Cho \displaystyle (u_n)_{n\geq 1} là một dãy các số thực. Khi đó chuỗi \displaystyle\sum_{n=1}^{+\infty}u_n hội tụ khi và chỉ khi với mỗi \displaystyle \epsilon >0, tồn tại số nguyên dương \displaystyle N để

\displaystyle \left|\sum_{i=m}^nu_i\right|<\epsilon

nếu n\geq m\geq N.

Ở một số chỗ, để cho thuận tiện, ta cũng xét chuỗi \displaystyle \displaystyle \sum_{n=0}^{+\infty}u_n. Khi đó các khái niệm tương ứng được nêu theo cách tương tự.

Định lý 3. Với số thực \displaystyle q, xét chuỗi \displaystyle \sum_{n=0}^{+\infty}q^n (quy ước \displaystyle 0^0=1). Nếu \displaystyle \mid q\mid <1 thì chuỗi hội tụ và

\displaystyle \sum_{n=0}^{+\infty}q^n=\frac{1}{1-q}.

Nếu \displaystyle \mid q\mid \geq 1 thì chuỗi phân kỳ.

A proof of Schonemann’s criterion


Các em học sinh nên xem lại hai bài sau:

[1] https://nttuan.org/2009/01/11/poly02/

[2] https://nttuan.org/2018/08/25/poly03/


Định lý (Schonemann, 1846). Cho số nguyên tố p, số nguyên dương n, và một đa thức f(x) với hệ số nguyên có dạng f(x)=(g(x))^n+ph(x). Trong đó gh là các đa thức với hệ số nguyên thỏa mãn:

(a) hệ số cao nhất của g bằng 1g bất khả quy trong \mathbb{F}_p[x].

(b) \deg (h)<\deg (f)(g,h)=1 trong \mathbb{F}_p[x].

Khi đó f bất khả quy trong \mathbb{Q}[x].

Chứng minh. Ta thấy hệ số cao nhất của f bằng 1\deg (f)=n\deg (g). Giả sử f khả quy trong \mathbb{Q}[x], suy ra f=f_1f_2, với f_1f_2 là các đa thức khác hằng với hệ số nguyên cùng có hệ số cao nhất là 1. Khi đó trong \mathbb{F}_p[x] ta có g^n=f_1f_2, mà hệ số cao nhất của g bằng 1g bất khả quy trong \mathbb{F}_p[x], suy ra trong \mathbb{Z}[x] thì f_1=g^r+pF_1f_2=g^{n-r}+pF_2, ở đây r là số nguyên dương bé hơn n, và F_1, F_2 là hai đa thức với hệ số nguyên. Do đó trong \mathbb{Z}[x] ta có đẳng thức

h=F_1g^{n-r}+F_2g^r+pF_1F_2,

suy ra g\mid h trong \mathbb{F}_p[x], điều này không thể xảy ra do (g,h)=1 trong \mathbb{F}_p[x]. \Box

Tiêu chuẩn này là một tổng quát của tiêu chuẩn Eisenstein.