Vu Lan


Rằm tháng 7 Âm lịch hàng năm là ngày xá tội vong nhân, dân gian gọi một cách nôm na là ngày cúng cô hồn. Nhưng đây cũng còn là ngày báo hiếu mà giới tăng ni Phật tử gọi là ngày lễ Vu Lan. Vậy lễ này và lễ cúng cô hồn có phải là một hay không ? Và đâu là xuất xứ của hai tiếng ” Vu Lan ” ?

Lễ Vu Lan bắt nguồn từ sự tích về lòng hiếu thảo của Ông Ma Ha Một Ðặc Già La, thường gọi là Ðại Mục Kiền Liên, gọi tắt là Mục Liên. Vốn là một tu sĩ khác đạo, về sau Mục Liên đã quy y và trở thành một đệ tử lớn của Phật, đạt được sáu phép thần thông rồi được liệt vào hạng thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử của Phật. Sau khi đã chứng quả A La Hán, Mục Liên ngậm ngùi nhớ đến mẫu thân, bèn dùng huệ nhãn nhìn xuống các cõi khổ mà tìm thì thấy mẹ đã đọa vào kiếp ngạ quỷ (quỷ đói) nơi địa ngục A Tì. Thân hình tiều tụy, da bọc xương, bụng ỏng đầu to, cổ như cọng cỏ. Mẹ Mục Liên đói không được ăn, khát không được uống. Quá thương cảm xót xa, Mục Liên vận dụng phép thần thông, tức tốc đến chỗ mẹ. Tay bưng bát cơm dâng mẹ mà nước mắt lưng tròng. Mẹ Mục Liên vì đói khát lâu ngày nên giật vội bát cơm mà ăn. Tay trái bưng bát, tay phải bốc cơm nhưng chưa vào đến miệng thì cơm đã hóa thành lửa. Mục Liên đau đớn vô cùng, khóc than thảm thiết rồi trở về bạch chuyện với Ðức Phật để xin được chỉ dạy cách cứu mẹ.

Phật cho Mục Liên biết vì nghiệp chướng của các kiếp trước mà mẹ ông mới phải sanh vào nơi ác đạo làm loài ngạ quỷ. Một mình Mục Liên thì vô phương cứu được mẹ dù ông có thần thông đến đâu và dù lòng hiếu thảo của ông có thấu đến đất trời, động đến thần thánh. Phải nhờ đến uy đức của chúng tăng khắp các nẻo đồng tâm hiệp ý cầu xin cứu rỗi cho mới được. Bởi vậy, Phật dạy Mục Liên phải thành kính đi rước chư tăng khắp mười phương về, đặc biệt là các vị đã chứng được bốn quả thánh hoặc đã đạt được sáu phép thần thông. Nhờ công đức cầu nguyện của các vị này, vong linh mẹ Mục Liên mới thoát khỏi khổ đạo. Phật lại dạy Mục Liên sắm đủ các món để dâng cúng các vị ấy, nào là thức thức thời trân, hương dâu đèn nến, giường chõng chiếu gối, chăn màn quần áo, thau rửa mặt, khăn lau tay cùng các món nhật dụng khác. Ðúng vào ngày rằm tháng 7 thì lập trai đàn để cầu nguyện, thiết trai diên để mời chư tăng thọ thực. Trước khi thọ thực, các vị này sẽ tuân theo lời dạy của Ðức Phật mà chú tâm cầu nguyện cho cha mẹ và ông bà bảy đời của thí chủ được siêu thoát. Mục Liên làm đúng như lời Phật dạy. Quả nhiên vong mẫu của ông được thoát khỏi kiếp ngạ quỷ mà sanh về cảnh giới lành. Cách thức cúng dường để cầu siêu đó gọi là Vu Lan bồn pháp, lễ cúng đó gọi là Vu Lan bồn hội, còn bộ kinh ghi chép sự tích trên đây thì gọi là Vu Lan bồn kinh.

Ngày rằm tháng 7 do đó được gọi là ngày lễ Vu Lan. Vậy lễ này có phải cũng là lễ cúng cô hồn hay không ? Không ! Ðây là hai lễ cúng khác nhau được cử hành trong cùng một ngày. Sự tích lễ cúng cô hồn đại khái như sau : Cứ theo “Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni Kinh” mà suy thì việc cúng cô hồn có liên quan đến câu chuyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một con quỷ miệng lửa (diệm khẩu) cũng gọi là quỷ mặt cháy (diệm nhiên). Có một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa mặt cháy như nó. A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ. Quỷ đói nói : ” Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sanh về cõi trên “. A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Phật bèn đặt cho bài chú gọi Là “Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni”, đem tụng trong lễ cúng để được thêm phước. Phật tử Trung Hoa gọi lễ cúng này là Phóng diệm khẩu, tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái. Vì tục cúng cô hồn bắt nguồn từ sự tích này, cho nên ngày nay người ta vẫn còn nói cúng cô hồn là Phóng diệm khẩu. Có khi còn nói tắt thành Diệm khẩu nữa. Diệm khẩu, từ cái nghĩa gốc là (quỷ) miệng lửa, nay lại có nghĩa là cúng cô hồn. Ðiều này góp phần xác nhận nguồn gốc của lễ cúng cô hồn mà chúng tôi đã trình bày trên đây. Phóng diệm khẩu mà nghĩa gốc là ” thả quỷ miệng lửa “, về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành ” tha tội cho tất cả những người chết “. Vì vậy, ngày nay mới có câu : ” Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân “.

Vậy lễ Vu Lan và lễ cúng cô hồn là hai lễ cúng khác nhau. Một đằng thì liên quan đến chuyện ông Mục Liên, một đằng lại liên quan đến chuyện ông A Nan. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ và ông bà bảy đời, một đằng là để bố thí cho những vong hồn không ai thờ cúng. Một đằng là báo hiếu, một đằng là làm phước. Sự khác nhau giữa hai bên là hiển nhiên, nhưng nhiều người vẫn cứ lẫn lộn. Chẳng hạn trước đây, ông Thái văn Kiểm cho rằng lễ Vu Lan và lễ (xá tội) vong nhân (fête des Trépassés) là một. Còn lễ cúng cô hồn (fête des âmes errantes) và lễ xá tội vong nhân (Pardon des Trépassés) chính là một thì ông lại xem là hai (X. Les fêtes traditionnelles Vietnamiennes, B.S.E.I., t. XXXVI, no1, 1961, pp. 64-65). Mới đây, hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi cho rằng lễ Vu Lan là để cầu nguyện cho vong hồn những người đã chết (Chúng tôi nhấn mạnh – HT) không còn phải đọa cảnh khổ nữa (Từ điển Phật học Việt Nam, Hà Nội, 1991, tr. 795, mục Vu Lan bồn). Nhưng đây không phải là ” những người đã chết ” nói chung vì như đã biết, đó chỉ là cha mẹ cùng với ông bà bảy đời mà thôi.

Trở lên là nói về sự khác nhau giữa lễ cúng cô hồn với lễ báo hiếu, thường gọi là lễ Vu Lan. Vu Lan là dạng tắt của Vu Lan bồn. Nhưng Vu Lan bồn là gì ? Sau đây là lời giảng của Thích Minh Châu và Minh Chi : ” Bồn là cái chậu đựng thức ăn. Cái chậu đựng thức ăn đem cúng dường chư tăng vào ngày rằm tháng 7 để cầu nguyện cho vong hồn những người đã chết không còn phải đọa cảnh khổ nữa. Vu Lan dịch âm từ chữ Sanscrit Ullabana, là cứu nạn treo ngược. Những người làm nhiều điều ác đức, sau khi chết, phải thác sinh xuống những cõi sống rất khổ gọi là địa ngục. Ở đây có một khổ hình là bị treo ngược (Sđd, tr. 795). Chúng tôi sẽ dựa vào lời giảng này mà tìm hiểu về xuất xứ của mấy tiếng ” Vu Lan ” và ” Vu Lan bồn “. Lời giảng này có bốn điểm sai mà điểm sai thứ nhất thì chúng tôi vừa mới chỉ ra ở những dòng cuối của đoạn trên.

Sau đây là điểm sai thứ hai : Nói bồn là cái chậu đựng thức ăn thì không đúng vì bồn chỉ là một yếu tố phiên âm (sẽ phân tích rõ ở phần sau) mà thôi. Nói rằng đó là ” cái chậu đựng thức ăn đem cúng dường chư tăng vào ngày rằm tháng 7 ” thì lại sai theo một kiểu khác nữa. Chậu là ” đồ dùng thường làm bằng sành sứ hoặc kim loại, miệng rộng, lòng nông, dùng để đựng nước rửa ráy, tắm giặt hoặc để trồng cây v.v…” (Từ điển tiếng Việt 1992). Vậy đựng thức ăn trong loại đồ dùng đó mà dâng lên cho chư tăng thọ thực là một hành động hoàn toàn thất nghi và thất lễ. Thật ra, Phật đã dạy Mục Liên như sau :

Phải toan sắm sửa chớ chầy
Ðồ ăn trăm món trái cây năm màu
Lại phải sắm giường nằm nệm lót
Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang dầu
Món ăn tinh sạch báu mầu
Ðựng trong bình bát vọng cầu kính dâng

(Diễn ca kinh Vu Lan bồn)

Thau, bồn (chậu) chỉ là những thứ phải dâng cho chư tăng trong dịp Vu Lan để dùng trong việc rửa ráy, tắm giặt … mà thôi. Còn thức ăn thì phải ” tinh sạch báu mầu, đựng trong bình bát ” đàng hoàng lịch sự, chứ có đâu lại đựng trong chậu.

Thật ra, trước Thích Minh Châu và Minh Chi, cũng có những học giả đã giảng như trên, chẳng hạn Ðoàn Trung Còn trong bộ từ điển lớn về Phật học hoặc Toan Ánh trong bộ sách dày về nếp cũ. Ðây là một cách giảng lệ thuộc vào cái sai của sách vở Trung Hoa. Từ Nguyên chẳng hạn, đã giảng về mấy tiếng Vu Lan bồn như sau : ” Nói lấy chậu đựng trăm thức để cúng dường chư Phật ” (Vị dĩ bồn trữ bách vị cung dưỡng chư Phật).

Ðiểm sai thứ ba là đã theo cái sai của những người đi trước mà giảng Vu Lan thành ” cứu nạn treo ngược”, vì thấy từ điển Trung Hoa giảng Vu Lan bồn là ” cứu đảo huyền “. Thật ra, khi Từ Nguyên chẳng hạn, giảng Vu Lan bồn thành ” cứu đảo huyền ” là đã mượn hai tiếng “đảo huyền ” trong sách Mạnh Tử. Trong sách này, có cú đoạn ” Dân chi duyệt chi do Giải đảo huyền dã” nghĩa là “như giải thoát khỏi sự khốn khổ tột cùng vậy “. Chính Từ Nguyên cũng đã giảng ” đảo huyền ” là sự khốn khổ tột cùng (khốn khổ chi thậm). Vậy ” cứu đảo huyền ” không phải là ” cứu nạn treo ngược ” mà lại là ” giải thoát khỏi sự khốn khổ tột cùng “. Hai tiếng ” đảo huyền ” ở đây không còn được hiểu theo nghĩa đen nữa. Nghĩa của chúng ở đây cũng giống như nghĩa của chúng trong thành ngữ ” đảo huyền chi tế ” là tình cảnh khốn khó, chứ không phải là ” cảnh bị treo ngược “.

Ðiểm sai thứ tư là ở chỗ nói rằng danh từ Sanscrit “Ullabana ” có nghĩa là ” cứu nạn treo ngược “. Trước nhất, cần nói rằng từ Sanscrit này đã bị viết sai. Vậy không biết ở đây hai tác giả muốn nói đến danh từ Sanscrit nào, nhưng cứ theo dạng sai chính tả đã thấy thì có thể luận ra rằng đó là một trong hai từ sau đây : Ullambana hoặc Ullambhana. Ở đây, xin phân tích từ thứ nhất: Ullambana gồm có ba hình vị : ud (trở thành ul do quy tắc biến âm samdhi khi d đứng trước l) là một tiền tố, thường gọi là tiền động từ (préverbe) chỉ sự vận động từ dưới lên, lamb là căn tố động từ có nghĩa là treo và ana là hậu tố chỉ hành động. Vậy Ullambana có nghĩa là sự treo lên. Nhưng tất cả chỉ có như thế mà thôi ! Từ Sanscrit này không hề diễn đạt cái ý treo ngược hoặc treo xuôi gì cả. Nó lại càng không thể có nghĩa là ” cứu nạn treo ngược ” được.

Trở lên, chúng tôi đã nêu ra những điểm sai trong lời giảng của Thích Minh Châu và Minh Chi về hai tiếng “Vu Lan “. Vậy đâu là xuất xứ và ý nghĩa đích thực của hai tiếng này ? Trước nhất, Vu Lan là dạng nói tắt của ” Vu Lan bồn “. Ðây là ba tiếng đã được dùng để phiên âm danh từ Sanscrit Ullambhana. Từ này thoạt đầu đã được phiên âm bằng bốn tiếng Hán đọc theo âm Hán Việt là Ôlambàna. Dạng phiên âm cổ xưa này đã được Từ Hải khẳng định. Về sau, Ôlambàna được thay thế bằng dạng phiên âm mới là ” Vu Lan bồn”, trong đó Vu thay thế cho Ô, lan cho lam và bồn cho bà + n (a). Vì ” Vu Lan bồn ” chỉ là ba tiếng dùng để phiên âm, cho nên từng tiếng một (Vu, Lan, bồn) hoàn toàn không có nghĩa gì trong Hán ngữ cả. Do đó, tách bồn ra mà giảng thành ” cái chậu đựng thức ăn ” như hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi đã làm là hoàn toàn không đúng.

Ullambhana có nghĩa là sự giải thoát. Danh từ Sanscrit này có ba hình vị: Tiền tố ud (trở thành ul vì lý do đã nói), căn tố động từ lambh và hậu tố ana. Xin nói rõ về từng hình vị : Không giống như trong Ullambana, ở đó nó chỉ sự vận động từ dưới lên. Trong Ullambhana, tiền tố ud chỉ ý phủ định hoặc đối lập, thí dụ : chad (che, bọc, phủ), dv (đối với), uc-chad (cởi quần áo), khan (chôn), đv ut-khan (moi lên), gam (đi), đv ud-gam (đi ra), nah (trói, buộc), đv un-nah (cởi trói) v.v… Trong những thí dụ trên, ud trở thành uc, ut, un do quy tắc biến âm samdhi. Còn các căn tố động từ thì được ghi bằng chữ in hoa theo truyền thống khi chúng được tách riêng. Căn tố động từ lambh là hình thái luân phiên với labh, có nghĩa là lấy, chiếm lấy, nắm bắt … Vậy Ul-lambh có nghĩa là giải thoát. Hậu tố ana chỉ hành động có liên quan đến ý nghĩa mà tiền tố và căn tố động từ diễn đạt. Vậy Ullambhana có nghĩa là sự giải thoát. Ullambhana được phiên âm sang Hán ngữ bằng ba tiếng dọc theo âm Hán Việt là ” Vu Lan bồn “. Vu Lan bồn được nói tắt thành Vu Lan. Vậy Vu Lan là sự giải thoát. Xuất xứ của nó là danh từ Sanscrit Ullambhana. Ðây là từ thứ hai trong hai từ mà chúng tôi đã suy đoán ở trên. Trong cấu tạo của từ này, tuyệt nhiên cũng không có một thành tố nào mà về ngữ nghĩa lại có liên quan đến hiện tượng ” treo ngược ” cả.

Trở lên, dù sao cũng chỉ là ý kiến thô thiển của một cá nhân. Ðúng hay sai, xin được sự thẩm xét của các nhà chuyên môn, trước nhất là các nhà Phật học và các nhà Phạn học.

An Chi (Huệ Thiên)*
* An Chi (Huệ Thiên) là một thành viên trong Ban giảng huấn – Lớp Gia Giáo luyện dịch Hán Tạng Chùa Viên Giác Tân Bình, phụ trách giảng ngoại khóa. Bài này đã được học giả An Chi giảng tại lớp Gia Giáo ngày 9/8/2000.
———–

Nguồn lamkieu.com.vn

2 thoughts on “Vu Lan”

  1. Vài Ý Nghĩa Lễ Vu Lan

    Mỗi năm, đến rằm tháng bảy thì Phật tử và nhân dân ta lại cảm thấy một cảm xúc thiêng liêng của Ngày Báo hiếu Vu Lan Bồn. Báo hiếu là bổn phận với tâm tư tình cảm truyền thống văn hoá của Dân tộc Việt Nam, thể hiện sự “đền ơn, đáp nghĩa” trong giềng mối nhân duyên lưu chuyển từ qua khứ và những tương hệ trong hiện tại đối với con người.

    …Theo lịch sử, Đạo Phật đã có ảnh hưởng thâm trầm với dân tộc ta, từ tương quan sinh tồn trên đất nước Việt Nam bị ngoại bang xâm chiếm, sự hội ngộ ý chí của Tiền nhân trong đạo ngoài đời, để tạo dựng tự chủ về văn hiến và kiến quốc cho đất nước thân yêu; Giáo lý đạo Phật đã đóng góp vào văn hoá dân tộc để lập nên những truyền thống, nề nếp tạo dựng kỷ cương xã hội, hình thành những nguyên lý an bang, lấy đạo lý nhân bản để hướng dẫn mọi người có tư tưởng, hành động trong nếp sống trật tự và đạo đức xã hội tốt đẹp; nên từ tập quán Tết Trung Nguyên trở thành lễ Vu Lan báo hiếu và được biểu dương Bốn ân đức lớn trong đời sống đối với con người
    …Ngày Rằm tháng Bảy thời nay có thể gọi là ngày lễ hội truyền thống “ân tình, nghĩa cảm” của nhân dân ta, một nén hương lòng trở thành nếp sống thiêng liêng; những lễ nghi sinh hoạt trong ngày này được lưu truyền nguồn tư tưởng, văn học từ xưa đến nay của người Việt Nam, vì đạo lý này chắt lọc mối quan hệ tình cảm hữu cơ khắng khít trong tâm hồn dân tộc ta.
    Vài Ý Nghĩa Lễ Vu Lan
    Thiện Tâm

    Ngày rằm tháng Bảy trong đạo Phật Việt Nam

    Mỗi năm, đến rằm tháng bảy thì Phật tử và nhân dân ta lại cảm thấy một cảm xúc thiêng liêng của Ngày Báo hiếu Vu Lan Bồn. Báo hiếu là bổn phận với tâm tư tình cảm truyền thống văn hoá của Dân tộc Việt Nam, thể hiện sự “đền ơn, đáp nghĩa” trong giềng mối nhân duyên lưu chuyển từ qua khứ và những tương hệ trong hiện tại đối với con người.

    Vấn đề thờ cúng không phải cứu cánh của người tu đạo Phật. Khi đạo Phật hoằng truyền, du hoá, với sự uyển chuyển có tính khế lý, khế cơ mà dung hoà với tín ngưỡng tập quán của nhân dân địa phương, nên đã hình thành những lễ nghi tín ngưỡng theo dân gian; Dù duy trì tập tục cũ, nhưng Đạo Phật cải thiện những tập quán ấy và khoác vào hình thức có ý nghĩa về mặt văn hoá và đạo đức xã hội. Phật giáo coi như là phương tiện giáo hoá quần chúng. Lễ Vu Lan Bồn cũng hoá hợp như vậy, từ truyền thống lễ Bon tại Ấn Độ, đến Lễ Trung Nguyên của người Trung Hoa và các nước có ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…

    Theo lịch sử, Đạo Phật đã có ảnh hưởng thâm trầm với dân tộc ta, từ tương quan sinh tồn trên đất nước Việt Nam bị ngoại bang xâm chiếm, sự hội ngộ ý chí của Tiền nhân trong đạo ngoài đời, để tạo dựng tự chủ về văn hiến và kiến quốc cho đất nước thân yêu; Giáo lý đạo Phật đã đóng góp vào văn hoá dân tộc để lập nên những truyền thống, nề nếp tạo dựng kỷ cương xã hội, hình thành những nguyên lý an bang, lấy đạo lý nhân bản để hướng dẫn mọi người có tư tưởng, hành động trong nếp sống trật tự và đạo đức xã hội tốt đẹp; nên từ tập quán Tết Trung Nguyên trở thành lễ Vu Lan báo hiếu và được biểu dương Bốn ân đức lớn trong đời sống đối với con người:

    Công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ

    Công ơn tương hệ tình thầy, nghĩa bạn và cộng đồng xã hội.

    Công ơn sự bao bọc, che chở của tổ quốc và sự cống hiến của Tiền nhân anh hùng liệt sĩ.

    Công ơn Tam Bảo đã khai sáng chân lý cho con người để cuộc sống có giá trị thiện mỹ hơn.

    Ngày rằm tháng Bảy, ngoài những ý nghĩa tôn vinh trên, hoạt động tại các Chùa cũng tổ chức lễ nghi và sinh hoạt văn hoá văn nghệ thể hiện cảm quan đạo lý Phật Đà, chẳng những nhắc nhở đến bổn phận hiếu đễ đối với cha mẹ hiện tiền và còn mở rộng liên tưởng về cõi sống của muôn loại chúng sinh, trong đó có cõi u đồ; sự tượng hình về báo ứng nhân quả do tự thân gây khổ đau hay hạnh phúc… Với Lễ Vu Lan Bồn được dựa theo điển tích gương hiếu hạnh của Ngài Tôn giả Mục Kiền Liên (một trong 10 đệ tử lớn của Phật Thích Ca Mâu Ni). Ngài theo lời dạy lập Đạo tràng thỉnh chư Tăng thanh tịnh sau mùa An cư Kiết hạ, tập trung chú nguyện tạo thành nguồn diệu lực soi sáng thức linh cho bà Thanh Đề (tức mẹ Ngài Mục Kiền Liên) mới được tỉnh ngộ, để phá tan tư tưởng mê mờ, giải kiến tính xan tham mà giải thoát khỏi cõi u đồ, Ngạ quỷ khổ đau để thanh thoát lên cõi thiện lành; từ đó điển tích này lan truyền ra, không những đối với Phật tử mà còn được đa số nhân dân ta lấy ngày rằm tháng Bảy hằng năm là “Ngày báo hiếu” với việc thăm nom chúc mừng cha mẹ hiện tiền, mà còn tri ân Cửu Huyền Thất Tổ… để cầu nguyện cho thân nhân quá vãng được siêu sanh Lạc quốc; có nơi còn lập Đàn tràng cầu siêu cho những vong hồn u mê lỡ bước, do đó mà còn mang thêm ý nghĩa là “Ngày xá tội vong nhân” và đã đi vào văn chương Việt Nam, nên ở Chùa cũng có thời khoa nghi để Phật tử và nhân dân đến tụng kinh, nguyện cầu cho vong linh được siêu sanh Tịnh độ.

    Ngoài lễ nghi tín ngưỡng tâm linh, Phật giáo Việt Nam (nhất là miền Nam) còn cụ thể hoá thêm phần sinh hoạt như lễ Tri Ân Phụ Mẫu bằng biểu trưng gắn “Bông hồng” để chia vui với những ai bông hồng còn thắm và bùi ngùi chia sẻ cảm thương với người có bông hồng bạc màu (khi người con trong tuổi còn nhỏ), vì cha mẹ là suối nguồn tình cảm dạt dào và thiêng liêng nhất. Đồng thời các Chùa lớn, nơi đô thị có điều kiện còn tổ chức các chương trình thơ nhạc, đêm văn nghệ do Đoàn thanh niên Phật tử (tức gia đình Phật tử) thực hiện, còn có cả văn nghệ sĩ Phật tử. Từ những lời cảm tưởng điệu thơ ca, phím nhạc cùng với cảnh diễn xuất thể hiện sự “Nhớ ơn chín chữ Cù lao…”, những đề tài ấn tượng đi vào lòng người để điều hạnh phúc hay khổ đau do hành vi của con người tự gây ra và chuốc lấy để hướng mọi người trong cuộc sống có lòng nhân ái, vị tha, tương thân giúp đỡ để xã hội con người sống thăng tiến, có đạo đức tốt đẹp hơn.

    Như trên đã trình bày, lễ hội rằm tháng Bảy do Phật giáo Việt Nam tổ chức, đó là đạo Phật đã hợp hoá các sinh hoạt thế gian trên nền tảng tín ngưỡng, tâm tư tình cảm và văn hoá của Dân tộc ta. Từ đó khai triển khoác lên hình thái phong phú đậm nét nhân văn, thành học lý triết thuyết cao siêu hơn; vừa đáp ứng phần siêu thực tâm linh nơi con người, còn thực tiễn với đời sống xã hội. Vì đạo Phật lấy thế gian pháp là Phật pháp, chiêm nghiệm những hiện tượng, sự kiện thực tế của Vũ trụ Nhân sinh lập nên học thuyết chân lý, đó là tính khoa học của nền giáo lý Phật học.

    Ngày Rằm tháng Bảy thời nay có thể gọi là ngày lễ hội truyền thống “ân tình, nghĩa cảm” của nhân dân ta, một nén hương lòng trở thành nếp sống thiêng liêng; những lễ nghi sinh hoạt trong ngày này được lưu truyền nguồn tư tưởng, văn học từ xưa đến nay của người Việt Nam, vì đạo lý này chắt lọc mối quan hệ tình cảm hữu cơ khắng khít trong tâm hồn dân tộc ta.

    Hôm nay, ngày Vu Lan báo hiếu PL. 2546 của người con Phật, hân hoan vui mừng ngày Phật hoan hỷ sau mùa An cư kiết hạ của Chư Tăng Ni thúc liễm thân tâm và tự tứ được thanh tịnh, phước trí trang nghiêm. Ngày Phật tử chúng con tri ân “nhớ ơn, đáp nghĩa” thành tâm dâng lên Tam Bảo lòng thành kính và nguyện cầu Cửu huyền Thất tổ, đa sanh phụ mẫu quá vãng được siêu sanh Tịnh độ, cha mẹ hiện tiền khương an phước thọ. Cầu nguyện quốc gia thịnh trị, hoà bình vĩnh cửu, nhân dân ấm lo hạnh phúc. Mong rằng Phật tử không đem các hình thức mê tín như đốt vàng mã cho người quá vãng… mà làm giảm ý nghĩa lễ Vu Lan báo hiếu của đạo Phật trong thời đại khoa học.

    (Trích tập văn Vô Ưu, Vu Lan thắng hội, PL. 2546 – 2002)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s